# Buổi 1_ K6_Định hướng quốc gia và vai trò của các đồng tiền chính

https://www.youtube.com/watch?v=YeqtckVqnMc

[00:04] Rồi chào các bạn.
[00:09] Thì trước khi đến với nội dung của buổi đầu tiên thì cùng nhắc lại cái lộ trình mình sẽ đi trong 3 tháng nha.
[00:21] Thì ở phần 1 chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu về data kinh tế.
[00:25] Nghĩa là ứng với mỗi loại data đó.
[00:30] thì một cái chu kỳ kinh tế như thế nào nó sẽ được xác nhận.
[00:36] Và ứng với một cái chu kỳ kinh tế đó thì cái dòng tiền nó sẽ dịch chuyển ra làm sao lưng phiên quai lại giữa các thị trường tài chính thì như mình đã biết thì thị trường tài chính nó gồm có bốn thị trường chính ha là thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ.
[00:56] Và cái dòng tiền nó sẽ luân chuyển qua lại thông qua những cái central bank họ điều tiết.
[01:03] Và central bank nó sẽ đưa ra những cái
[01:05] chính sách có thể là ngắn hạn và dài hạn để mà điều tiết những cái dòng tiền đó.
[01:15] Và mục đích cuối cùng của họ là để làm gì?
[01:16] Kinh tế của một quốc gia nó có thể phát triển ha.
[01:22] Rồi ngoài ra thì trong ngần mộ thì mình cũng có nghiên cứu về liên thị trường.
[01:28] Có nghĩa là khi một cái loại tài sản này tăng thì tương ứng với nó sẽ có một cái loại tài sản khác nó sẽ giảm.
[01:36] Thì ở đây mình không chỉ là nhắm vào cái chìa mua không mà mình còn nhắm vào cái chìa bán nữa.
[01:44] Và loại tài sản đó là loại tài sản gì?
[01:48] Những loại tài sản nào?
[01:51] Rồi khi nghiên cứu về liên hiện trung ương đặc biệt ở đây là nghiên cứu về phép thì chúng ta nghiên cứu về bản cân đối kế toán của phép.
[01:58] Thì bản cân đối kế toán của phép thì cũng giống như là một bản cân đối của của một cái doanh nghiệp bình thường.
[02:05] thôi ha.
[02:08] Nó cũng có tài sản và cũng có nợ phải trả.
[02:11] Nó cũng có thu chi trong kỳ như thế nào và tiền nó sẽ nằm ở lớp nào à ở lớp 1, lớp hai và lớp ba.
[02:19] Khi mà nó ở cái lớp nào đó thì cái loại tài sản nào tăng ha.
[02:21] Lớp 1 thì sao, lớp hai thì sao và lớp ba là sao?
[02:27] Rồi và cái chu kỳ đó thì nó sẽ gắn với là một cái định lý gọi là một cái nghịch lý gọi là nghịch lý trí phim về cái sức mạnh của một cái đồng tiền của một quốc gia đóng vai trò là đồng tiền dự trữ toàn cầu.
[02:47] Thì về data thì đa số các bạn ở đây hiểu làm những cái data vĩ mô nó được dùng để mà nghiên cứu trong dài hạn thì đó là không chính xác.
[02:57] Tại vì data mình có thể dùng trong ngắn hạn, có thể là ngay tại thời điểm đó ngay lập tức khi mà data vừa nổ ra là giá nó chạy luôn hoặc là
[03:06] cái data đó nó có thể tác động một cách âm thầm một cách từ từ ảnh hưởng đến nền kinh tế.
[03:13] Rồi thì trong ngắn hạn thì chúng ta sẽ nghiên cứu về tác động đến tỷ giá của một cái cặp tiền hay gọi là currency streng ha.
[03:20] Thì currency strength thì cũng chỉ là một cái cặp tiền có nghĩa là x/ thôi ha.
[03:25] Ví dụ mình là gọi là x đồng tiền định giá hoặc là y là đồng tiền x giá đi.
[03:30] Ví dụ như vậy à thì đối với những cái data nào đó ngay thời điểm đó thì cái sức mạnh của cái loại đồng tiền đó nó sẽ tăng hay giảm như cái gì.
[03:42] Rồi thì có tổng cộng là chính cái loại chỉ số mình được dùng để mà mình tray theo cái kiểu data ngắn hàng.
[03:51] Mình có tray trước tin và mình tray sau tin.
[03:54] Rồi vàờ mình có bảy cái loại chỉ số để mà mình xác định cái chu kỳ kinh tế nó ở đang là chu kỳ nào.
[04:04] Rồi ngoài ra thì trong ngắn hạn mình còn có nghiên cứu một cái yếu tố nữa gọi là
[04:09] tâm lý thị trường ha.
[04:12] Thì tâm lý thị trường thì nó sẽ là một cái bộ ngôn bao gồm sáu lĩnh vực.
[04:18] Đầu tiên đó là C reward.
[04:18] Thứ hai là FW tool.
[04:18] Thứ ba là break event.
[04:21] Thứ tư là nartive social.
[04:25] Thứ năm là ETF CAS.
[04:29] Và cuối cùng là biến động hàm ý.
[04:33] Rồi đó là một cái bộ môn nha.
[04:35] cái bộ môn cụ thể chứ không phải là một cái khái niệm trù tượng gì đó mình khó nắm bắt.
[04:45] Rồi sau khi mình biết được cái tác động ngắn hạn trong tuần đó làm sao thông qua những nghiên cứu những cái chỉ số thì mình sẽ bắt đầu là mình ráp vào cái chẹt như thế nào.
[04:56] Ai các bạn đã biết được xu hướng trong tuần dựa vào cái bộ data mà họ cho họ điều tiết dòng tiền như thế nào rồi thì mình sẽ bắt đầu nghiên cứu.
[05:06] Thì tài sản tài chính thị trường á người ta thường chia làm hai loại nha.
[05:07] Đây là
[05:10] đối với cái loại mình mình đang dạy khóa này là khóa basic là những cái loại tài sản basic thôi ha.
[05:15] Còn những cái tài sản mà gọi là phức tạp hơn trong những thị trường khác thì ở đây mình không có nói thì người ta thường chia làm hai loại ha đó là tài sản rủi ro và tài sản số ẩn.
[05:28] Khi một dòng tiền nó đổ về tài sản rủi ro thì nó sẽ rút ra khỏi tài sản trú ẩn.
[05:33] Và ngược lại ha khi tiền đổ về tài sản trú ẩn thì tiền nó sẽ rút khỏi cái tài sản rủi ro.
[05:39] Rồi là mình xác định cái dòng tiền dựa vào cái ETF cas vậ mình dựa vào cái siêu ti reward thì mình biết được dòng tiền thì mình sẽ trả lời được ba câu hỏi ha đó là thời điểm nào của thị trường rồi giá từ đâu về đây và từ đây thì giá nó sẽ đi về đâu à đó là tr sẽ trả lời ba câu hỏi này rồi và cái cấu trúc thị trường thời điểm này là cái gì ha cái thanh khoản cung cầu thời điểm này là cái gì?
[06:15] về cấu trúc thị trường thì nó có thể là có xu hướng mạnh, xu hướng yếu, có những cái cây level à khi xu hướng nào khi nào thì xu hướng dừng lại, khi nào thì một cái xu hướng nó được củng cố sức mạnh.
[06:26] Rồi về thanh khoản thì có chính loại thanh khoản ha thanh khoản trong ngoài rồi những cái gì đó liên quan thì mình sẽ tập trung mình khai thác hết ở trong phần hai và về trung cầu thì mình sẽ nghiên cứu tập trung nghiên cứu bốn cái khái niệm ha có nghĩa là dịch chuyển đường cung cầu là gì di chuyển trên đường cung cầu là gì rồi rồi mình nghiên cứu về revising mình sẽ nghiên cứu về expected demand vân vân hơn à và những cái gì sinh ra những cái vùng supply demand đó ha có thể là những cái vup guidance có thể là những cái narrative social vân vân có rất là nhiều cái rồi từ đó mình sẽ tìm được điểm qua điểm vào và điểm ra ha
[07:15] rồi ở phần ba thì mình sẽ học xây dựng
[07:18] cái đường công vốn thì liệu rằng cái quy tắc 2% nó có đúng hay không.
[07:24] Và ngoài ra quy tắc 2% thì người ta còn có những quy tắc nào nữa trên thị trường.
[07:28] Mình sẽ tập hợp chung lại thành một cái hệ thống quản lý đường công vốn.
[07:31] Mình phân chia mục tài chính giống như kiểu là của một cái headphone chuyên nghiệp.
[07:37] Rồi thì tất cả những cái quá trình đó nó sẽ đầu tiên là chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ về lý thuyết trước.
[07:43] Rồi sau đó chúng ta sẽ thực hành.
[07:46] Thực hành ở đây là có những cái công cụ sẵn cho các bạn ha.
[07:50] Thì chỉ cần các bạn biết copy và pass thì các bạn sẽ làm được thôi.
[07:54] Đâu có gì khó khăn lắm.
[07:56] Nhưng mà tất nhiên thì chúng ta phải hiểu được cái vấn đề nó là cái gì.
[08:00] Rồi đó là toàn bộ cái nội dung khóa học này ha.
[08:07] Thì mà đi sâu vào chi tiết thì nó còn những cái cái điểm khác nữa thì các bạn sợ về data ha.
[08:12] Thật ra nó là những cái cái công thức thôi chứ không có cái gì mà phức tạp lắm nha.
[08:20] Rồi are you ready?
[08:31] Rồi ta đến với bài đầu tiên ha.
[08:45] Rồi các bạn có biết sai lầm lớn nhất của một trader là cái gì không?
[08:53] Nè thì sai lầm lớn nhất của một trader không phải là tham ngoài là các bạn đi dự đoán hướng đi của giá ha.
[09:03] Chúng ta không phải là những nhà tiên tri mà chúng ta có thể biết được những cái gì sẽ diễn ra trong tương lai mà chúng ta phải đi xác định xác định thông qua data, xác định thông qua dòng tiền.
[09:16] Một cái sai lầm nữa là các bạn chọn sai loại tài khoản tài sản mà các bạn tray
[09:21] một cái loại tài sản nếu như mà nó không có tren nó không có dòng tiền đổ vào.
[09:25] nhưng các bạn vẫn cố tình các bạn tro mà cái loại tài sản đó có tren nó di chuyển được.
[09:32] đúng không ạ?
[09:34] Đó là những cái sai lầm và để khắc phục những sai lầm đó thì chúng ta phải xác định hướng đi của chá.
[09:42] rồi vậy xác định là sao?
[09:44] Ở đây mình sẽ nói về cái đối tượng mà mình sẽ nghiên cứu đó chính là tiền ha.
[09:53] Đó chính là tiền hay cái hay chính xác hơn đó là những cái cặp tỷ giá hối đôi.
[10:03] người ta còn gọi là trên lệch tỷ giá giữa hai quốc gia ha.
[10:07] Mà muốn xác định được cái trên lệch tỷ giá với hai quốc gia thì mình cần có xác định được cái quốc gia đó.
[10:14] nó thuộc cái gọi hình quốc gia nào, cái định hướng phát triển của nó là gì?
[10:19] Cái chu kỳ kinh tế hiện tại của quốc gia đó.
[10:22] đang làm sao?
[10:25] Rồi những cái tin tức nào tác động đến tỷ giá, tác động đến chu kỳ kinh tế của quốc gia đó.
[10:31] Từ đó mình mới xác định được cái xu hướng hiện của cái đồng tiền đó là gì.
[10:46] thì có hai cái loại hình quốc gia chính ha là quốc gia xuất khẩu, quốc gia dụng dịch vụ
[10:51] và với hai cái loại hình quốc gia đó thì mình sẽ có bốn cái vai trò ứng với tám cái đồng tiền mình sẽ nghiên cứu.
[10:59] Ở đây mình chỉ nghiên cứu đối tượng là tám đồng tiền chính thôi nha.
[11:03] Tại vì đây là những cái đồng tiền có cái mức độ thanh khoản người ta giao dịch nhiều thì mình mới trê được.
[11:08] Nhưng mà không có nghiên cứu những cái đồng tiền mà người ta ít giao dịch.
[11:13] Rồi
[11:20] và một cái câu nữa các bạn hay nghe ha.
[11:23] Bạn hay nghe trading là cái việc mà nó thuộc về xác suất thống kê là một cái bộ môn liên quan đến xác suất thống kê.
[11:34] Về xác suất thống kê theo các bạn.
[11:36] Ở đây là cái gì?
[11:39] À xác suất thống kê ở đây là gì?
[11:53] Rồi chuyên mục tự hỏi tự trả lời ha.
[11:56] Thì xét xất người ta định nghĩa đó là đo lường khả năng xảy ra của một sự kiện.
[12:03] có nghĩa là từ 0% có nghĩa là không bao giờ xảy ra cho đến là 100% là chắc chắn xảy ra.
[12:10] Đó là xác suất.
[12:13] Thống kê có nghĩa là thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu để rút ra quy luật, mô hình hoặc là những dự báo.
[12:22] Vậy thì khi ghép lại xét xất thống kê có
[12:24] nghĩa là cái cách dùng dữ liệu quá khứ
[12:28] để mà ước tính cái khả năng xảy ra trong tương lai.
[12:30] Thì ở đây người ta không phải gọi là cái sự biết chắc chắn mà là cái dự báo bằng cái độ tin cậy.
[12:35] Thì trong những cái quỷ những cái H á người ta sẽ ứng dụng cái gọi là những cái mô hình định lượng vào để mà tray.
[12:40] À thì có thể là những cái định lượng về phân phối xác suất của biến động giá ha ví dụ như là NM distribution nè hay là not hay là heavy rồi m low simulation
[12:55] hoặc là infent rất là nhiều cái rồi còn có thể là định giá quyền chọn ha người ta gọi là option rising là người ta sẽ sử dụng cái gọi là thực toán hay là binomial một remod rồi rất là nhiều cái cái đó gọi là thống kê và người ta đi tìm cái là gọi là gì?
[13:19] Đi tìm alpha có nghĩa là đi tìm được cái liên lợi nhận
[13:27] nào đó mà người ta có thể đầu tư.
[13:29] À cái đó gọi là thống kê.
[13:32] Rồi và cái xác sức thống kê đó nó còn liên quan đến một khái niệm gọi là regime ha.
[13:38] regim.
[13:41] Resim tức là cái trạng thái của thị trường.
[13:43] Có nghĩa là cùng một cái loại dữ liệu đó nhưng mà nó sẽ phản ứng khác nhau trong những chu kỳ kinh tế khác nhau.
[13:52] Phản ứng khác nhau dựa vào kỳ vọng thị trường, dựa vào sentiment khác nhau.
[13:55] Ví dụ mình thấy cái CVI kỳ này nếu như mà cao hơn kỳ trước thì thông thường thì nó có thể là tăng đúng không?
[14:00] Nhưng mà trong những cái bối cảnh khác, những cái regim khác thì nó sẽ lại là giảm.
[14:05] Ủa tại sao vậy?
[14:08] À các bạn có từ hỏi à và cái việc mình nghiên cứu ở đây thì mình sẽ xác định được cái đó là cái gì?
[14:14] Tại sao cái sự sim đó nó lại dẫn đến kết quả như vậy ha.
[14:25] Rồi thì đầu tiên tại sao chúng ta lại cần
[14:28] phải phân loại quốc gia?
[14:31] Tại vì á mỗi cái quốc gia nó có chính sách tiền tệ khác nhau để phù hợp với bản chất của cái nền kinh tế.
[14:36] Mình biết được cái chính sách á mình sẽ biết được cái cách điều tiết sức mạnh của đồng tiền tại thời điểm đó là làm sao và những quốc gia khác nhau họ sẽ có nhóm những cái tin tức quan trọng khác nhau.
[14:49] À ví dụ như quốc gia dịch vụ thì họ sẽ chú trọng với những cái quốc gia cái data mà liên quan đến mảng dịch vụ.
[14:56] Còn những quốc gia xuất khẩu thì nó sẽ đặc biệt chú trọng đến những cái data về xuất khẩu ha.
[15:00] Ví dụ như Vent of Trade hay là export hay là inbox vân vân hay là chi phí sản xuất hay là giá xăng giá dầu gì đó vân vân.
[15:11] Đó là cái ý nghĩa của việc tại sao mình cần phải phân lỗ trang.
[15:23] rồi và để cho FX ha bất kỳ một loại sản phẩm hàng hóa nào đó thì nói là
[15:31] Mình cần phải đi chọn ra cái cặp giao dịch.
[15:32] Mà muốn chọn được mua cặp giao dịch á thì mình phải biết được cái sức mạnh của mỗi yếu tố trong cái cặp giao dịch đó là cái gì.
[15:42] Rồi ở đây thì mình sẽ nghiên cứu gọi là một cái cặp tỷ giá hối đối đi.
[15:45] Tỷ giá hối đối thì người ta gọi là x/y ha.
[15:52] X sẽ đại diện cho một đồng tiền và Y sẽ đại diện cho một đồng tiền.
[15:59] Vậy thì khi nào kết quả của phép chia x/này nó tăng và khi nào thì kết quả của phép chia x/y này nó giảm.
[16:15] Rồi ví dụ như đối với x ở đây là chúng ta có cặp euro trên USD đi.
[16:21] À ở đây chúng ta có euro trên USD đi ha.
[16:28] Rồi thì khi nào cái cặp ZD nè ta?
[16:32] Khi nào thì cặp này nó giảm?
[16:54] Phải khi euro mạnh hơn USD thì cái cặp Euro trên USD tăng không?
[17:01] Có phải khi euro mà nó yếu hơn USD thì cái cặp Euro USD nó giảm không?
[17:09] Rồi có phải khi cái đồng đô la yếu hơn đồng euro thì cặp euro USD nó tăng lên không?
[17:18] Và có phải khi cái đồng đô la nó mạnh hơn cái đồng Euro thì cặp Euro GT nó giảm xuống không?
[17:25] À vậy thì khi nào nó mạnh hơn và khi nào nó yếu hơn?
[17:29] Chính là ngay tại thời điểm mà nó công bố dữ liệu à thì nó sẽ cho thấy sức mạnh.
[17:35] tiền tệ của cái đồng tiền đó ngay thời điểm đó nó mạnh hơn là nó yếu hơn.
[17:39] Tại vì một thời điểm trên thị trường người ta sẽ chỉ public một cái data kinh tế duy nhất.
[17:49] Tại vì đây là một thị trường tài chính ha.
[17:50] người ta sẽ không trộn lẫn nhiều data ngay cùng thời điểm.
[17:55] tại vì hiện tượng đó nó sẽ dẫn đến cái gọi là những cú sốc tiền tệ, những cú sốc thanh khoản trên thị trường thì chỉ có mỗi cặp là giữa đô la và cad thì nó mới ra cùng thời điểm thôi.
[18:05] Còn tất cả những thời điểm còn lại ở trong một ngày á thì các bạn sẽ thấy hầu như chẳng có đồng nào nó ra trùng với đồng nào cả.
[18:17] N đó là một cái lý do rồi.
[18:24] Đó là trong ngắn hạn khi data ra nha.
[18:25] Còn data trong dài hạn để mình xác định mà mình ray theo kiểu H mình đánh dài hạn mình đánh theo chu kỳ à thì nó sẽ dựa vào một cái toàn bộ
[18:37] nguyên cái bộ chỉ số của cái quốc gia đó.
[18:42] để người ta biết được trong thời điểm đó.
[18:44] quốc gia đó mạnh hơn hay là quốc gia đó yếu hơn những quốc gia còn lại để mà tray.
[18:50] rồi.
[18:51] cho nên nhiệm vụ của mình chia mình tray thì mình sẽ chọn ra một cái đồng nào.
[18:58] đồng x nào đó nó có sức mạnh là mạnh nhất ngay thời điểm đó để mà bình tray.
[19:04] và mình tìm một cái đồng y nào đó nó có sức mạnh là yếu nhất ngay thời điểm đó để mà bình tray hoặc là ngược lại cũng được ha.
[19:11] min hoặc là max cũng được các bạn truy cập nó ra nha chứ các bạn không thể nào các bạn chọn những cái thằng những cái cặp tiền mà có sức mạnh tương đương thời điểm đó các bạn tray được.
[19:22] tại sao tại vì cái trang nó sẽ đi sai quay ha.
[19:29] Rồi.
[19:36] rồi trong mỗi chu kỳ mình sẽ shift thứ.
[19:39] tự tám đồng tiền ra.
[19:42] Sắp xếp thứ tự ra ha.
[19:46] Rồi thì sau đó mình sẽ chọn hàng đứng thứ nhất với lại là thứ bảy hoặc thứ tám hoặc thứ sáu ha hoặc là thứ hai với lại 678 cũng được.
[19:54] Và mình đừng có chọn những thằng nào có sức mạnh tương đương 1 2 hay là 34 hay là 56 gì đó đừng có chọn ha.
[20:01] Tại vì cơ bản này nó không có trang cho các bạn đánh dài hạn.
[20:08] Và người ta sẽ dùng cái báo cáo CT và dùng cái ETF CAS để người ta xác định lại xem là có dòng tiền vào những cái thằng MX hay là những cái thằng Win này hay không để người ta quyết định là người ta chọn cái cặp đó là hợp lý hay chưa.
[20:23] Ví dụ dòng tiền nó đổ vào hàng thứ nhất nhưng mà nó không có đổ vào dòng dòng tiền thứ tám mà nó đổ vào hàng thứ năm thì mình chọn th nào?
[20:30] Mình chọn 1 với 5.
[20:33] À ví dụ tiện nó không có đổ dàng thứ nhất mà nó đổ dàng thứ hai.
[20:36] Đồng thời nó đổ dàng thứ bảy thì mình sẽ chọn
[20:39] thằng nào? Thứ hai dần thứ bảy đi bên
[20:41] đây nha. Ví dụ như vậy.
[20:46] Đó là kiểu đánh theo kiểu dài hạn mà
[20:48] đánh theo chu kỳ. Thì CT thì có nhiều
[20:50] khía cạnh lắm.
[21:08] Rồi đây là cái quá trình mình sẽ thực
[21:12] hiện ha.
[21:14] Nghiên cứu từng cái.
[21:19] Đầu tiên mình sẽ đến với phân lộ quốc
[21:21] gia. Người ta sẽ phân lộ quốc gia dựa
[21:24] vào định hướng quốc gia. Rồi ở đây các
[21:27] bạn có các bạn các bạn nào biết định
[21:29] hướng quốc gia là gì không ạ?
[21:34] Định hướng quốc gia
[21:50] các bạn cứ comment thoải mái ha hoặc là
[21:54] nói chuyện gì cũng được.
[22:06] Rồi xuất khẩu nhập khẩu
[22:14] rồi. Chuyên mục tự hỏi trự trả lời xin
[22:17] được phép tiếp tục ha. thì người ta định
[22:20] hướng người ta định nghĩa cái định hướng
[22:23] quốc gia là cái tầm nhìn cốt lỗi và cái
[22:27] chiến lược phát triển dài hạn mà một cái
[22:30] chính thủ của quốc gia đó họ xét lập.
[22:34] Đầu tiên cái mục đích của họ là để xác
[22:36] định cái mô hình kinh tế chủ đạo là nó
[22:39] có thể liên quan đến dịch vụ công
[22:40] nghiệp, nông nghiệp, tài chính hay là ưu
[22:43] tiên phát triển công nghệ.
[22:45] Thứ hai á
[22:47] thì định hướng quốc gia là nhầm để khẳng
[22:49] định cái vị thế địa chính trị
[22:51] có thể là trung, có thể là bá chủ, có
[22:53] thể là khu vực hay là đối trọng với
[22:55] những cái nước khác.
[22:57] À ngoài ra thì định hướng quốc gia người
[23:00] ta còn xác định để mà thiết lập cái giá
[23:03] trị cốt lỗi.
[23:05] Có nghĩa là dựa vào dân chủ nè, kiểm
[23:08] soát nè, quân sự hóa nè hay là trung lợt
[23:11] hóa.
[23:12] Và cuối nữa là lựa chọn cái vai trò toàn
[23:16] cầu à có thể là cung cấp tài nguyên công
[23:18] nghệ hay là an ninh hay là tài chính gì
[23:20] đó hay là cung cấp đi cái sự bảo hộ dân
[23:23] chủ.
[23:24] Ha.
[23:27] Quốc gia.
[23:30] Rồi ở đây mình sẽ nghiên cứu tám nước ha
[23:33] và chủ yếu là mình sẽ nghiên cứu về định
[23:35] hướng kinh tế của họ.
[23:39] Thì đầu tiên đó là nước Mỹ ha thì họ sẽ
[23:41] tập trung phát triển về công nghệ, tập
[23:44] trung phát triển về tài chính, tiêu dùng
[23:46] nội địa, dịch vụ tài chính và quân sự.
[23:54] Đặc biệt là lĩnh vực quân sự ha
[23:58] thì quân sự nó chiếm khoảng là 3,4% GDP
[24:02] của Mỹ.
[24:04] 3,4% GDP của Mỹ thì tương đương là đâu
[24:07] đó là khoảng là 26,9.000 ngàn tỷ đô
[24:11] à và nó chiếm khoảng là 13% là ngân sách
[24:15] liên bang và Mỹ thì chiếm là 40% là cái
[24:20] chi tiêu quốc phòng toàn cầu
[24:27] và Mỹ đặc biệt là cái nước xuất thủ vũ
[24:30] khí lớn nhất thế giới ha thì theo cái
[24:34] ước tính năm a năm rồi nha chưa chưa có
[24:37] tính chiến tranh thì đâu đó là khoảng là
[24:40] 300 tỷ đô và tương đương với khoảng là
[24:43] gần hơn 1% GDP ha.
[24:50] Và nó có những cái tập đoàn quân sự lớn
[24:54] thì ở đây là sẵn đây thì nói luôn ha.
[24:57] Đây cũng là những cái mã cổ phiếu mà các
[24:59] bạn đánh theo cái kiểu là
[25:02] thuộc nhóm cổ phiếu thủ
[25:05] nha. Nhóm cổ phiếu thủ tại vì cổ phiếu
[25:07] chia làm hai loại ha.
[25:09] cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu thủ
[25:11] hoặc là những cái loại cổ phiếu liên
[25:13] quan đến tiện ích thì có một vài cái
[25:15] loại cổ phiếu như là lock martin nè ran
[25:18] hay là no ran hay là boing defend nè vân
[25:21] vân nha đó là những cái loại cổ phiếu
[25:23] quốc phòng
[25:26] rồi đối với euro thì là họ tập trung là
[25:28] sản xuất công nghiệp xuất khẩu công nghệ
[25:31] và dịch vụ tài chính rồi đối với Nhật
[25:34] Bản là xuất khẩu công nghệ ha ô tô điện
[25:37] tử
[25:39] Rồi khoản người xuất khẩu gì nữa?
[25:47] Nhật bản xuất khẩu gì nữa?
[25:50] Thằng nào biết không?
[25:52] Câu phim Nhật hoài không biết ha. Câu
[25:55] phim Nhật hoài sao không biết?
[25:58] à
[26:00] ha suy nghĩ cái gì đâu không viên hoạt
[26:03] hình á ha doraemon rồi đó nha chứ không
[26:07] phải như mấy anh chị nghĩ
[26:10] đúng rồi là một cũng là một cái a
[26:14] cái ngành dịch vụ của họ
[26:16] tại vì nm nó chiếm khoảng 80% là cái
[26:20] lượng khiên hoạt hình trên thế giới ha
[26:23] ngoài nó là xuất khẩu văn hóa.
[26:26] Rồi kế đến nước Anh ha. Nước Anh là một
[26:29] cái trung tâm tài chính
[26:32] đó là nơi ra đời của
[26:34] gì ta? Ra Family ha. Nhưng mà RS Family
[26:39] chỉ là cá con thôi.
[26:42] Rồi cá mập phải là gia tộc Medic.
[26:45] Rồi
[26:47] dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại
[26:49] ha vân vân phẩm. Rồi thị sĩ là cung cấp
[26:52] dịch vụ tài chính, ngân hàng, xuất khẩu
[26:54] hay là những cái mặt hàng cao cấp.
[26:57] Canada là chủ yếu là khai thác tài
[26:58] nguyên ha, xuất khẩu năng lượng và hàng
[27:00] hóa vân vân. Úc là quản sát than đá,
[27:03] dịch vụ giáo dục vân vân. Rồi New
[27:05] Zealand là xuất khẩu nông sản, sữa thịt,
[27:08] rượu vang hay gì đó. Rồi vẽ và định
[27:11] hướng về phát triển kinh tế này thì
[27:13] người ta sẽ chia ra ha. Đối với Mỹ thì
[27:17] nó sẽ thuộc về quốc gia dịch vụ.
[27:20] Rồi
[27:21] anh cũng là quốc gia dịch vụ và thị sĩ
[27:23] cũng là quốc gia dịch vụ. Tất cả những
[27:25] cái nước còn lại đều là quốc gia xuất
[27:27] khẩu.
[27:29] Tuy nhiên có một số quốc gia
[27:32] nó lai giữa dịch vụ và xuất khẩu à đó là
[27:37] Euro,
[27:38] đó là Nhật Bản.
[27:41] Rồi
[27:45] cho nên những cái đồng tiền khó tray
[27:46] nhất ở đây á là đồng yên.
[27:49] Và đồng er cái đồng dễ tray nhất ở đây á
[27:52] là đồng bản đồng Canada và đồng AOD.
[27:57] Rồi
[28:00] tại vì nó không có kiểu như là 3D giữa
[28:02] này giữa kia ha. Nam là nam, nữ là nữ
[28:05] chứ không có vừa nam vừa nữ.
[28:08] Nó sẽ dễ xử hơn. Rồi
[28:16] đầu tiên mình nghiên cứu quốc gia xuất
[28:17] khẩu ha.
[28:19] Thì những quốc gia xuất khẩu á họ luôn
[28:21] ưu tiên là giảm giá trị đồng tiền so với
[28:24] những cái loại ngoại tệ khác.
[28:30] Cho nên khi mà giá trị hay còn gọi là
[28:34] cái sức mạnh tiền tệ của họ nó sẽ phụ
[28:37] thuộc vào cái lãi suất trong cái chu kỳ
[28:39] đó của một quốc gia. lãi suất của quốc
[28:42] gia xuất khẩu mà càng thấp thì giá trị
[28:46] đồng tiền của họ sẽ càng cao
[28:49] gọi là currency strange. Các bạn sao
[28:52] những cái quốc gia xuất khẩu thì luôn
[28:54] luôn muốn giảm sức mạnh hay là gọi là
[28:57] giảm cái lãi suất không ạ? Duy trì một
[29:01] cái đồng tiền có lãi suất thấp.
[29:04] Tại sao quốc gia xuất khẩu luôn luôn
[29:06] muốn duy trì một cái đồng tiền có lãi
[29:09] suất thấp?
[29:47] Thì thật ra ba những cái mà nước mà xuất
[29:51] khẩu này á họ thường để tỷ giá thả nổi
[29:54] nhiều hơn ha. Nhưng mà trong cái cấu
[29:57] trúc kinh tế của họ một cái đồng tiền
[29:59] quá mạnh và
[30:02] một cái mặt bằng lãi suất quá cao á nó
[30:04] sẽ gây hại rất lớn cho xuất khẩu, cho
[30:07] nông nghiệp, cho khai khoán, cho du
[30:09] lịch. cho giáo dục à và tiêu dùng nội
[30:13] địa
[30:15] thì cái điều mà họ muốn ở đây á không
[30:18] phải là cái đồng tiền càng yếu càng tốt
[30:21] mà là cái đồng tiền không được mạnh quá
[30:23] mức so với cái năng lực thật của cái nền
[30:26] kinh tế họ trong cái thời điểm đó.
[30:31] Tại vì sao? Tại vì lễ suất thấp á
[30:35] cái đầu tiên á là nó sẽ làm cho cái đồng
[30:38] tiền nó kém hấp dẫn hơn trong cái nghiệp
[30:40] vụ car.
[30:43] À nếu như mà lãi sức của Úc, của New
[30:46] Zealand, của Canada nó cao hơn Mỹ, Nhật,
[30:49] Châu Âu thì những cái nhà đầu tư có thể
[30:51] mua những cái đồng tiền này để hưởng cái
[30:54] lợi suất cao hơn. Khi mà cái dòng tiền
[30:56] mua vào thì cái đồng tiền mạnh lên ha.
[30:59] Ha, ngược lại nếu như mà ngân hàng trung
[31:02] ương giữ cái lãi xất thấp hơn á hoặc là
[31:04] phát đi những cái tín hiệu là không muốn
[31:06] thấp chật quá mạnh thì đồng tiền nó sẽ
[31:09] bớt hấp dẫn hơn đối với cái dòng carry
[31:11] day.
[31:13] Rồi cái thứ hai á là nếu như một cái
[31:17] đồng tiền mà
[31:19] yếu á thì những cái loại hàng hóa đó khi
[31:23] mà xuất khẩu ra ra
[31:26] bên ngoài nó sẽ có cái ưu thế về giá cả
[31:29] hơn.
[31:45] Rồi những cái quốc gia mà mình liệt kê ở
[31:47] đây á
[31:49] là nó có cái đặc điểm chung là những cái
[31:51] thị trường về bất động sản rồi nợ hộ gia
[31:55] đình á nó rất là nhạy cảm với lãi suất
[31:58] ha. Khi mà lãi suất tăng cao á thì cái
[32:00] tiền mà trả cái market á nó tăng rồi
[32:04] người dân phải là giảm tiêu dùng giá nhà
[32:07] thì sẽ chịu áp lực ha. Và những cái ngân
[32:09] hàng thì họ sẽ thận trọng hơn những
[32:12] doanh nghiệp nhỏ thì là gì khó bay vốn
[32:14] ha. Nông dân thì khó là được tài trợ sản
[32:17] xuất vân vân. Rồi vì vậy nếu như mà mà
[32:21] nền kinh tế đi ngân hàng trung ương thì
[32:23] thường có xu hướng là giảm lãi suất hoặc
[32:25] là giữ lễ suất thấp để mà bảo vệ cái cầu
[32:27] nội địa.
[32:29] Rồi một cái yếu tố nữa là nếu như một
[32:32] cái đồng tiền nó quá mạnh ha thì nó sẽ
[32:34] gây ra một cái hiện tượng gọi là
[32:40] người ta gọi là dc ha.
[32:42] R DC thì có thể hiểu đây là một cái căn
[32:45] bệnh khi mà cái ngành mà tài nguyên quá
[32:49] mạnh á làm cho cái đồng tiền tăng giá
[32:52] rồi khiến những cái ngành khác nó sẽ bị
[32:54] mất cái sức cạnh trên.
[32:57] À ví dụ nước Úc đi có một cái giai đoạn
[33:00] mà giá quạnn sắc nó tăng mạnh. Cái dòng
[33:03] tiền toàn cầu mua AUD mạnh ha. Khi mà
[33:06] AOD nó tăng quá cao thì cái ngành khai
[33:08] khoán nó sẽ được huẩn lợi. Nhưng mà
[33:10] những cái ngành khác như là sản xuất nè,
[33:13] du lịch rồi giáo dục quốc tế nè, rồi
[33:16] nông nghiệp nó sẽ bị tổn thương. À tại
[33:19] vì là gì? Cách du lịch là thấy cái đồng
[33:22] tiền út nó đắt hơn à họ sợ là đi du lịch
[33:26] út nó sẽ tiêu tốn nhiều tiền hơn.
[33:29] À rồi là sinh viên là thấy cái học phí
[33:32] nó quá cao, chi phí sinh hoạt cao cho
[33:34] nên là cũng ngại đi du học. Rồi cái hàng
[33:37] sản xuất cũng vậy ha. Nông sản thì nó sẽ
[33:40] kém cạnh tranh hơn. Rồi
[33:47] rồi. Đó là một cái một trong những lý do
[33:50] ha.
[34:12] Rồi trong tờ liệu có nói
[34:18] rồi mình đến với một cái case study ở
[34:20] đây ha.
[34:22] Thì các bạn trong cái bài 1 này thì các
[34:24] bạn không có cần nhớ mấy cái này, không
[34:26] có cần nhớ cái này tại vì mình chỉ là
[34:30] tập trung phân loại quốc gia và xác định
[34:32] đúng được quai trò của đồng tiền là được
[34:35] rồi.
[34:37] Rồi thì đây là một cái câu mẫu sau này
[34:40] khi mà chúng ta tiến hành phân tích á
[34:42] thì chúng ta sẽ thực hiện giống như vậy
[34:45] ha.
[34:46] Rồi câu hỏi ở đây là nước Úc trong thời
[34:49] kỳ tiền si thoái
[34:51] đã cắt giảm lãi suất ba lần thì cái tên
[34:54] CBI nó công bố như thế nào là tốt hoặc
[34:57] là xấu cho rồng AUD?
[35:00] Đồng thời tâm lý thị trường ở đây là gì?
[35:03] À tâm lý thị trường á là cái kỳ vọng về
[35:06] lãi suất nó sẽ ảnh hưởng đến giá trị
[35:08] đồng tiền như thế nào gọi là
[35:14] kỳ vọng. Rồi thì ở đây chúng ta có thể
[35:18] kẻ trong cái bảng ha quốc gia ở đây là
[35:21] quốc gia xuất khẩu chu kỳ kinh tế ở đây
[35:23] là tiền x thoái. Bối cảnh ở đây là đã
[35:26] cắt giảm lãi sức ba lần để kích thích
[35:29] kinh tế và cái nhóm tin tức ở đây là cái
[35:32] nhóm là phát rồi. Tâm lý thị trường ở
[35:35] đây là giữ nguyên lãi suất.
[35:41] Rồi đối với bất kỳ một cái tin nào đưa
[35:43] ra mình cũng cần phải
[35:46] xác định được cái bối cảnh của nó à
[35:52] và cái loại tin của nó thuộc loại tin gì
[35:57] thì nhóm tin ở đây các bạn sẽ quy về ba
[36:00] nhóm ha.
[36:02] Một là lãm phát, hai là kinh tế,
[36:06] ba là lao động.
[36:10] Rồi chỉ ba cái này thôi.
[36:16] Khi lm phát tăng
[36:18] thì lãi suất như thế nào?
[36:21] Phải tăng để mà kiểm soát kiểm soát lạm
[36:23] phát. Rồi khi kinh tế tăng
[36:29] khi kinh tế tăng
[36:31] thì đồng nghĩa với việc là gì? Làm phát
[36:34] nó cũng tăng. Mà lạm phát tăng thì sao?
[36:38] Người ta bắt buộc phải tăng lãi suất để
[36:40] mà kiềm chế làm phát.
[36:43] Rồi khi lao động tăng à lao động tăng là
[36:47] cái gì? Tiêu dùng tăng, chi tiêu tăng
[36:49] thì kinh tế là sao? Kinh tế phát triển.
[36:52] Kinh tế phát triển thì sao? Lại quay
[36:54] ngược về lãm phát ha. Lạm phát tăng thì
[36:56] dẫn đến là gì? Phải tăng lãi suất để mà
[36:59] kiềm chế
[37:00] lạm phát. Mình cứ quy ra như vậy thôi.
[37:05] Bất cứ một cái kh tin nào đó đều quy ra.
[37:07] quy về lãi suất là người ta đang kỳ vọng
[37:09] cái gì? Kỳ vọng cái gì ha? Đó gọi là kỳ
[37:13] vọng.
[37:16] Rồi nếu như mà động phát giảm
[37:19] động phát giảm đi thì kỳ vọng lãi suất
[37:22] là sao?
[37:24] Lã xất có cần tăng để kiểm soát lạm phát
[37:26] không?
[37:36] không ha
[37:39] đúng không
[37:42] động phát cái ren ổn định thì ta đang
[37:43] lãi xất làm gì đúng không ạ thì kỳ vọng
[37:47] lúc đó là kỳ vọng gì một là giữ nguyên
[37:50] hay là kỳ vọng lễ suất giảm nếu như mà
[37:52] kinh tế nó có dấu hiệu nó yếu đi để mà
[37:55] kích thích kinh tế ha ngược lại khi mà
[37:57] nhóm lao động nó yếu đi,
[38:00] lao động nó yếu đi,
[38:01] thì sao
[38:04] có cần phải tăng lại sức không hay là
[38:07] giữ nguyên hoặc là giảm để mà kích thích
[38:08] kinh tế kích thích lao động lại trong
[38:11] nước ha đó là một yếu tố rồi và khi mà
[38:16] cái tin ra
[38:18] một tin ra
[38:22] thường thường nó sẽ chia ra làm bốn cục
[38:27] này giống như là người ta cho
[38:29] bốn cục này giống như là người ta cho
[38:29] các bạn
[38:31] trước ba cái lá bài và dễm vụ các bạn là
[38:35] dựa vào cái lá bài còn lại các bạn sẽ
[38:37] đón cái trên đó xác định cái trên đó là
[38:40] tăng hay giảm à
[38:43] và cái lá bài quan trọng nhất ở đây là
[38:45] lá bài còn xốt ha lá bài còn sinh suốt
[38:50] đó là kỳ vọng thị trường kỳ vọng thị
[38:52] trường ở đây được đưa ra dựa vào cái gọi
[38:56] là kèo nhà cán ha gọi là kèo nhà cá Cái
[39:01] cái này là của những big boy họ đưa ra
[39:03] một cái chỉ số gọi là con x
[39:08] rồi
[39:10] và những cái số này có trên lệch với
[39:12] nhau và những cái trên lệch đó người ta
[39:15] gọi là delta nha. Ví dụ như kỳ trước ở
[39:20] đây là 0.1 cách là 0.2 thì delta ở đây
[39:23] bằng
[39:24] 0.1. Rồi tại sao mình cần phải xác định
[39:28] delta? Tại vì dựa vào delta mình mới
[39:30] biết được cái kèo nào là mỗi kèo kèo
[39:34] ngon. À
[39:36] mỗi kèo ngon được định nghĩa đó là
[39:39] có delta lớn hơn 0.3
[39:43] lớn hơn một bằ 0.3
[39:46] à.
[39:47] Rồi
[39:49] thì khi đến phần công thức trading thì
[39:51] mình sẽ nói kỹ hơn và xem những cái này
[39:54] ha thì các bạn có thể vào
[39:57] tradingeconomic.com các bạn xem cái phần
[39:59] calendar
[40:02] rồi link ở đây ha.
[40:05] Sau này các bạn vở hết tất cả những cái
[40:07] link mà các bạn coi data trước đây đi.
[40:10] Cái đó không có đúng. cái link góc nó từ
[40:12] tradingomic ra rồi
[40:17] và khi mà các bạn
[40:20] xác định chu kỳ kinh tế thì mình sẽ dựa
[40:21] vào những cái bộ chỉ số mà họ cung cấp ở
[40:24] đây để các bạn xác định cái chu kỳ kinh
[40:27] tế ở cái bài bảy chỉ số sẽ nói
[40:32] rồi thể vào country ha tìm cái nước nào
[40:35] đó rồi coi cái chỉ số nào mà mình cần
[40:38] phân tích mình xem
[40:42] rồi
[40:44] Canada sẽ coi
[40:47] lịch ha và coi những cái đồng tiền nào
[40:51] có thể tray được ha. Rồi ở đây có bốn
[40:55] cột ha, previous consensus và forecast
[40:59] hoàn toàn dựa vào đây để trở
[41:03] trên ngắn hạn.
[41:15] Rồi thời kỳ tiền suy thoái mà dự báo
[41:19] forecast kỳ này cao hơn kỳ trước thì có
[41:21] nghĩa là như thế nào? Cbi nó đang như
[41:25] thế nào ha?
[41:28] Người ta dự báo CPI tăng có nghĩa là
[41:30] tiêu dùng tăng đúng không? Mà tiêu dùng
[41:31] tăng thì có nghĩa là nền kinh tế đã có
[41:33] dấu hiệu phục hồi đúng không ạ?
[41:38] Thì đây là tính tốt hay là tin xấu cho
[41:40] đồng tiền?
[41:43] Giả sử ở đây không có cột còn s ha c
[41:46] suất người ta giấu đi người ta bỏ đi.
[41:48] Rồi vậy thì một cái tin như thế nào làm
[41:51] cho đồng tiền út n tăng
[41:56] khi nào AUD nó tăng
[42:04] chú ý chu kỳ ha.
[42:07] Ở đây là chu kỳ gì?
[42:09] Điện suy thoái. À
[42:13] thì đối với một cái quốc gia xuất khẩu,
[42:18] quốc gia xuất khẩu ha thì những cái chu
[42:20] kỳ
[42:22] mình gọi là chu kỳ giảm ha đó là tiền si
[42:25] thoái
[42:27] si thoái
[42:30] và đái
[42:32] là cái trồng tiền nó tăng
[42:35] nhưng chỉ khi là kinh tế phát triển.
[42:39] Rồi
[42:43] và trong ba chu kỳ mở rộng
[42:47] tăng trưởng
[42:50] và đỉnh thì trên đồng tiền của những
[42:53] quốc gia xuất khẩu là giảm.
[42:57] Đó là vậy mà định của quốc gia mình suy
[42:59] ra thôi. Rồi tiền suy thối đang là trên
[43:02] gì?
[43:08] Tran tăng rồi
[43:11] CPI tăng là lãng thái tăng ha. Cho thấy
[43:13] là kinh tế cái phần là ok. Đây là gì?
[43:15] Liên quan đến nhệt tiêu dùng. Rồi vậy
[43:17] khi nào đồng tiền này tiếp tục tăng?
[43:20] Khi con số actual nó ra như thế nào
[43:23] thì đồng sẽ tăng và khi nào thì đồng đô
[43:26] la sẽ giảm?
[43:53] Rồi. Đây.
[44:11] Thì xét về cấu trúc của một tin ha. Khi
[44:14] mà cái lạm phát tăng thì là sức mạnh
[44:18] đồng tiền nó sẽ tăng.
[44:20] Nhưng mà nếu xét về cái định hướng quốc
[44:22] gia thì cái việc tăng này nó không có
[44:24] phù hợp với định hướng à cho nên nó sẽ
[44:26] giảm lại.
[44:29] Có nghĩa là nếu như mà tin ra là 0.2
[44:30] chẳng hạn hoặc là 0.15
[44:34] à thì đồng tiền sẽ tăng ngược lại ha.
[44:38] Rồi sau đó nó sẽ giảm lại tại vì là gì?
[44:41] Trái định hướng quốc gia.
[44:43] Đó là trường hợp không có cột còn sensus
[44:46] ha. Còn cái cột sensus thì nó sẽ khác
[44:48] nữa. Rồi thường thường thì người ta sẽ
[44:51] có cột còn sensus này nha. Ở đây ví dụ
[44:54] là không có cột còn sensus thôi. Tại vì
[44:57] một cái tin nào đó nếu như có cột còn
[44:59] sensus vào á thì có nghĩa là cái dòng
[45:01] tiền lớn họ đã mở cái cửa đó cho những
[45:05] nhà đầu tư họ tray rồi thì mới có cái
[45:09] cột census đó nó xuất hiện. Còn khi mà
[45:12] nó không có cột còn xốt á có nghĩa là
[45:16] cái tổ chức big boy không có mở cái kèo
[45:17] đó cho cái bản trai thì cái tin đó nếu
[45:20] như mà có ra đi chăng nữa con số như thế
[45:22] nào chăng nữa thì nó cũng không có biến
[45:23] động nhiều
[45:26] rồi
[45:29] ví dụ như vậy còn nếu như mà kỳ này bằng
[45:30] kỳ trước ha thì đồng tiền nó sẽ tăng tại
[45:34] vì là chứng tỏ là cái chính sách hiện
[45:35] tại là nó vẫn đang là ok ha rồi tức là
[45:40] tùy cái nhóm tên nha. Và tùy cái bối
[45:42] cảnh. Nếu như là cái chu kỳ khác thì kết
[45:46] quả nó sẽ ra khác nha.
[45:48] Rồi
[45:54] thì cũng không có gì khó
[45:59] nghe để hiểu thôi nha. Tại vì có cái bài
[46:01] công thức cụ thể là tuần sau ha.
[46:13] Rồi
[46:20] ở đây cái công thức đầu tiên cần nhớ ha.
[46:23] Đó là trong ba chu kỳ giảm là tiền suy
[46:25] thoái, suy thoái và đáy thì sức mạnh
[46:28] đồng tiền của quốc gia xuất khẩu nó sẽ
[46:30] tăng. Nhưng chỉ khi nào là hàng kinh tế
[46:32] phát triển.
[46:35] Đây là công thức thứ nhất ha.
[46:37] Và công thức thứ hai là trong chu kỳ
[46:39] tăng
[46:41] thì đồng tiền của gia xuất khẩu sẽ giảm
[46:43] giá trị
[46:47] rồi.
[47:03] Chúng ta đến với cái chẹt Axi ha.
[47:19] Ở đây thì có đánh dấu sẵn chưa các bạn?
[47:22] Rồi thì đây cái phần này là cái giai
[47:25] đoạn Covid ha là hầu như quốc gia nào nó
[47:28] cũng giảm. Và đây là sau cái giai đoạn
[47:30] Covid đó là giai đoạn phục hồi và tăng
[47:32] trưởng thì nước Úc lại duy trì một cái
[47:35] chính sách là lãi xất thấp sau đại dịch
[47:37] để mà cái thích hành kinh tế cho nên
[47:40] đồng tiền của nước Úc nó có cái tren
[47:43] tăng ASI nó tăng rồi sau khi mà họ duy
[47:47] trì cái chính sách lãi suất cao để mà
[47:49] kiềm chế lạm phát hậu tăng trưởng đó thì
[47:52] cái sức mạnh tiền tệ của đô lố nó giảm
[47:54] xuống à ngoải ra đến gần đây thì bắt bắt
[47:58] đầu là hiện tượng là gì? Cái ngân hàng
[48:00] trung ương là trong những năm gần đây là
[48:02] bắt đầu tăng lãi suất lên trở lại, giảm
[48:03] lãi suất xuống à thì là gì? Sức mạnh của
[48:06] đồng đô lốt nó tiếp tục nó quay ngược
[48:08] trở lại nó tăng. Quay ngược trở lại nó
[48:10] tăng. Thì cái mức tăng ở đây thì nó cũng
[48:13] tùy giai đoạn và tùy cái sức mạnh và sức
[48:16] khỏe của nền kinh tế mà nó tăng bao
[48:17] nhiêu. Nó sẽ không có con số cụ thể nào
[48:20] cho các bạn xác định nha.
[48:22] Chỉ biết là xu hướng tăng và là xu hướng
[48:24] nó giảm mà thôi. Rồi tương tự như vậy là
[48:27] của CAD và NZD thôi ha. Vậy là mình có
[48:33] ZXY ha.
[48:47] Đó có chẹt nó cũng tương tự thôi nha. Ch
[48:50] nó cũng tương tự.
[48:52] Rồi nhưng mà tại sao New Zealand nó vẫn
[48:54] giảm giả sức mà cái đồng tiền giai đoạn
[48:57] này nó không có tăng giá?
[49:00] À tại vì sao? Tại vì đơn giản là cái nền
[49:05] kinh tế của nó rất là yếu, nó không có
[49:08] sự phát triển nha. Cho nên mình cần phải
[49:11] lưu ý cái yếu tố là cái gì?
[49:14] thời kỳ mà giảm lãi suất, duy trì lãi
[49:16] suất thấp, giá trị đồng tiền nó chỉ tăng
[49:18] khi mà gì kinh tế nó phát triển mà thôi.
[49:22] Nhà như các bạn thấy v những cái đoạn
[49:25] này á có nghĩa là những cái bộ chỉ số nó
[49:27] ra trong thời điểm đó nó tốt nhưng mà nó
[49:30] không có tốt một cách liên tục đều và ổn
[49:32] định. Cái đà tăng trưởng nó không có
[49:34] được duy trì và ổn định ha. Cho nên nó
[49:37] mới kéo lại những cái đà giảm đó.
[49:40] Rồi tương tự là CAD ha.
[49:43] S đi
[50:11] rồi. Rồi vậy hầu như a những cái chẹt
[50:15] này nó
[50:17] tương đương với nhau ha. Cũng tương
[50:19] đương với nhau. Rồi đó là công thức của
[50:22] quốc gia xuất khẩu ha.
[50:27] Đây là cái công thức đánh theo kiểu chu
[50:29] kỳ dài hạn nha.
[50:32] Chu kỳ thì có thể là kéo dài từ 6 tháng
[50:36] trở lên
[50:38] và trộn bộ sáu chu kỳ thì nó có thể tùy
[50:42] quốc gia sức khỏe của nền kinh tế mà nó
[50:44] kéo dài từ 4 cho đến là 5 năm tùy mỗi
[50:48] quốc gia thôi.
[50:55] Rồi chúng ta sẽ có những cái yếu tố làm
[50:58] tăng sức mạnh đồng tiền và có những cái
[51:00] yếu tố làm giảm sức mạnh đồng tiền.
[51:03] Rồi
[51:05] đầu tiên là lễ xức tháp haặng
[51:08] dư thương mại lớn nhu cầu toàn cầu về
[51:10] hàng hóa xuất khẩu tan
[51:13] giá cả hàng hóa xuất khẩu dầu
[51:18] quặn nông sản tăng dòng vốn đầu tư nước
[51:20] ngoài và ngành sản xuất chính sách tiền
[51:22] tệ thất vật hoặc là ổn định về chính trị
[51:24] và kinh tế
[51:26] rồi những yếu tố làm giảm sức mạnh đó là
[51:28] lãi suất cao trong hục thương mại nhu
[51:30] cầu toàn cầu giá cả hàng hóa.
[51:33] dòng vốn đầu tư chính sách tiền tệ nó là
[51:35] ổng giờ báo cộ ổng địa chính trị thì một
[51:37] cái ví dụ đơn giản thôi các bạn nhìn vào
[51:40] đó là khi mà giá dầu gần đây tăng đúng
[51:43] không thì cái trên của đồng CAD và trên
[51:48] của những cái đồng như AOD này nó tăng
[51:51] lên được không ạ?
[51:54] Rồi ví dụ sau này mình có một cái bản
[51:56] tin đi tặng Dương thương mại kỳ này của
[51:59] nước Úc vượt a 10.000 tiền tỷ so với kỳ
[52:03] năm ngoái thì cái tin đó nó được đưa ra
[52:06] làm cho đồng AUD AUD như thế nào
[52:15] rồi
[52:20] hoặc là
[52:23] số lượng khách du lịch vào New Zealand
[52:27] mùa này tăng lên so với mùa trước thì
[52:30] giá trị sức mạnh của đồng tiền New
[52:31] Zealand như thế nào
[52:36] tăng lên đúng không? Rồi
[52:41] thì đó là cách mà sau này mình sẽ đọc
[52:43] những cái narative, những cái title.
[52:48] Rồi ví dụ như số vận khách du dịch vào
[52:49] Việt Nam mùa này nó bị giảm đi so với
[52:52] mùa trước thì giá trị của cặp USD trên
[52:55] VND như thế nào?
[53:05] Rồi tương tự như vậy ha. Tại Việt Nam là
[53:08] một quốc gia gì?
[53:12] Quốc gia xuất khẩu đúng không?
[53:14] Rồi cho nên luôn luôn muốn duy trì sức
[53:16] mạnh đồng tiền như thế nào? Thấp ha. Và
[53:20] đó định ứng quốc gia ha. Cho nên mà bạn
[53:23] nào thấy đồng tiền Việt Nam mà có cái
[53:26] giá trị thấp mà chê là sai ha. Chẳng qua
[53:29] là do cái định nước quốc gia của người
[53:30] ta thôi nha.
[53:35] Không có chọn con đường làm thằng mạnh
[53:37] ha. Chọn con đường làm thằng yếu
[53:40] để phát triển tối ra cái nội lực của
[53:42] mình.
[53:47] Rồi đây những cái tài liệu thôi, những
[53:49] ví dụ thôi. Rồi đối với quốc gia dịch vụ
[53:55] thì đường lối và chính sách của họ thì
[53:57] nó có phần ngược lại so với quốc gia
[54:00] xuất khẩu.
[54:02] Đó là họ luôn cố gắng duy trì cái sức
[54:04] mạnh tiền tệ cao hay là một cái đồng
[54:06] tiền có cái sức cạnh tranh cao
[54:11] hay là lãi sức cao. Giờ câu hỏi là tại
[54:14] sao?
[54:24] Tại vì đa số những quốc gia dịch vụ á là
[54:27] những cái quốc gia mà người ta kinh
[54:28] doanh niềm tin, người ta kinh doanh tài
[54:30] chính mà kinh doanh dịch vụ tài chính mà
[54:32] anh muốn làm dịch vụ làm về bảo hiểm đồ
[54:36] thì cái hình ảnh của anh phải là sáng
[54:39] hóa ha. hay là gọi là người ta nhìn vào
[54:43] người ta cảm thấy an tâm thì người ta
[54:45] mới đầu tư vào. Cho nên là gì?
[54:50] Cần phải duy trì sức mạnh đồng tiền
[54:54] cao người ta gọi là thương hiệu quốc gia
[54:56] ha. Thương hiệu quốc gia.
[54:58] Rồi cái đồng tiền mạnh nó sẽ giúp những
[55:00] quốc gia dịch vụ hút cái dòng vốn toàn
[55:03] cầu tốt hơn.
[55:05] À tại vì một cái qu gia dịch vụ thường
[55:07] có cái tài khoản vốn mở, thị trường tài
[55:11] chính nó sâu và hệ thống ngân hàng thì
[55:14] phát triển, thị trường trái phiếu lớn
[55:16] ha, thị trường chứng khoán và thanh
[55:17] khoản cao mà muốn cái dòng vốn đầu tư nó
[55:20] đổ vào thì nhà đầu tư phải tin rằng cái
[55:23] đồng tiền đó nó không có bị phá giá quá
[55:25] nhanh. có nghĩa là cái sức mua của đồng
[55:27] tiền đó nó phải nó phải cao. Rồi ngoài
[55:31] ra thì một cái đồng tiền mạnh nó giúp
[55:32] cho giảm cái chi phí nhập khẩu và có thể
[55:35] là control lại phát nó tốt hơn. Một cái
[55:38] quốc gia dịch vụ lớn thường không có tự
[55:40] sản xuất mọi thứ ha là họ sẽ nhập khẩu
[55:43] nhiều hàng hóa, nguyên liệu, năng lượng,
[55:46] thiết bị hay là hàng tiêu dùng.
[55:48] Nếu như mà đồng tiền mạnh á thì cái hàng
[55:50] nhập khẩu nó sẽ rẻ hơn.
[55:53] Khi mà quy đổi những cái hàng hóa đó ra
[55:56] nội tệ á thì nó sẽ rẻ hơn và cái chi phí
[55:59] sinh hoạt của người dân nó sẽ được kiểm
[56:01] soát tốt hơn.
[56:04] Rồi một cái yếu tố nữa là những ngân
[56:08] hàng trung ương họ phải là bảo vệ cái uy
[56:11] tín chống lạm phát.
[56:14] Thì những quốc gia dịch vụ ha thì lãm
[56:16] phát chính là cái kẻ thù số một của
[56:18] những cái mô hình tệ này. Tại vì lãm
[56:20] phát nó sẽ làm mất giá tài sản tệ
[56:24] rồi nó làm cho trái phiếu nó bị bán tháo
[56:28] và làm cho những cái người giữ tiền nó
[56:31] sẽ bị mất niềm tin tỷ giá thì bị nghi
[56:33] ngờ ha.
[56:38] Và những quốc gia dịch vụ á thì người ta
[56:40] thường dùng cái thị trường trái phiếu
[56:43] làm cái gọi là cái nam châm để mà thu
[56:46] hút cái nguồn vốn. Cho nên á người ta
[56:49] rất là chú trọng cái mãng là
[56:51] dịch vụ này thì người ta có một cái bảng
[56:54] xếp hạng thính nhiệm của những quốc gia
[56:57] ha. Đó gọi là cái bản xếp hạng của Smie.
[57:02] Rồi thì có thể vào đây mà coi ha. Những
[57:05] quốc gia dịch vụ thường thường nó có cái
[57:07] thứ hạn cao trên cái bảng ship hạng này.
[57:15] Mấy cái link mà gửi trong quá trình học
[57:17] á các bạn chịu khó lưu lại nha.
[57:38] Rồi ví dụ như thị sĩ ha thì người ta có
[57:40] rating là
[57:43] aa ha. Rồi
[57:51] đối với Việt Nam là thấy gì ạ? Rồi đến
[57:55] BB+ lận ha. B+ rồi đối với Mỹ là A+ ha
[58:00] vân vân tương tự với những quốc gia khác
[58:03] thì mình có thể coi ở đây ha gia nào như
[58:05] thế nào rồi coi cái trái phiếu còn ở đây
[58:08] làm sao
[58:10] thì nếu như các bạn học nâng cao á thì
[58:13] mình sẽ dựa vào những cái trang này để
[58:16] mình tính slot mình tính curator mình
[58:20] tính conversity ha để mà xác định chu kỳ
[58:23] các bạn học cơ bản thì các bạn sử dụng
[58:25] bảy chỉ số thô Thôi thì cơ bản nó cũng
[58:27] đã đủ rồi. À thì các bạn khi mà xác định
[58:32] chu kỳ á, một á là mình xác định chu kỳ
[58:35] rồi mình suy ngược lại dòng tiền, hai á
[58:37] là từ dòng tiền suy ngược lại chu kỳ thì
[58:40] hai ghế nó đều được ha.
[58:44] Rồi trở lại với cái
[58:47] nội dung ha.
[59:01] Thì chúng ta có những cái yếu tố làm
[59:02] tăng sức mạnh đồng tiền đối với những
[59:05] quốc gia dịch vụ ha. Đó là tăng lễ suất
[59:09] dòng gố đầu tư nước ngoài vào dĩnh lĩnh
[59:12] vực dịch vụ công nghệ cao rồi dòng tiền
[59:15] từ những cái dịch vụ quốc tế
[59:17] vào cái mãng tài chính và cái mảng bảo
[59:19] hiểm và cái mảng giáo dục.
[59:21] Rồi nhu cầu cao về dịch vụ quốc tế, chi
[59:24] phí nhập khẩu giảm nhờ đồng tiền mạnh ha
[59:27] rồi niềm tin của nhà đầu tư quốc tế và
[59:29] hệ thống tài chính và ổn định để chính
[59:31] trị và kinh tế.
[59:34] Rồi ngược lại thì đối với là giảm sức
[59:36] mạnh thôi. Giảm sức mạnh thì nó ngược
[59:38] lại. Ví dụ như trong cái kỳ đó Smoothie
[59:42] họ công bố một cái bản xếp hạng tính
[59:45] nhiệm ngoài cái đồng đô la Mỹ nó bị hạ
[59:48] tín nhiệm từ AA+ giảm xuống còn A+ thôi
[59:53] à thì sức mạnh của đồng đô la Mỹ như thế
[59:56] nào?
[01:00:00] Trên DSY như thế nào?
[01:00:03] À ví dụ như vậy là nó sẽ giảm hoặc là
[01:00:06] trong kỳ đó có một cái tin nào đó liên
[01:00:08] quan đến tranh chấp lưỡng diện ha liên
[01:00:11] quan đến cái việc là
[01:00:14] không thông qua một cái chính sách nào
[01:00:16] đó liên quan đến mãng Elcare hay là K
[01:00:19] hay cái gì đó à thì sức mạnh tiền tệ của
[01:00:21] đồng đô la Mỹ như thế nào
[01:00:24] cũng sẽ giảm xuống luôn.
[01:00:26] À ví dụ như vậy
[01:00:30] hoặc là một cái tin ra về tăng lãi suất
[01:00:33] đi thì đồng tiền như thế nào?
[01:00:42] À tăng ở đây thì chưa chắc nha. Tại vì
[01:00:45] nó còn liên quan đến cái regime nữa.
[01:00:50] Còn liên quan đến cái regim nữa
[01:00:52] là bối cảnh
[01:00:54] ông hỏi lúc nào tăng lãi suất thì
[01:00:57] sức mạnh đồng tiền nó cũng tăng.
[01:01:00] Còn liên quan đến regim.
[01:01:03] Rồi
[01:01:07] thì cái công thức của quốc gia dịch vụ
[01:01:09] thì nó đơn giản hơn.
[01:01:14] Và đây là những cái lý do tại sao những
[01:01:16] cái quốc gia dịch vụ nó lại
[01:01:20] cần phải tăng sức mạnh ha.
[01:01:24] Này ví dụ mình đi lướt nhanh nha.
[01:01:36] Bài này không cần biết mấy này đâu nha.
[01:01:38] Tại vì ghi ra cho nó đầy đủ cái giáo
[01:01:40] trình thôi. Cái nào cần nhớ thì sẽ nói.
[01:01:45] Rồi công thức đầu tiên là chu kỳ giảm
[01:01:47] thì sức mạnh tiền tệ hay cái tren của
[01:01:51] cái đồng tiền dịch vụ đó nó sẽ giảm.
[01:01:54] Nó rất là dễ ha.
[01:01:57] Và ngược lại
[01:02:00] trong cái a chu kỳ tăng
[01:02:05] thì cái sức mạnh tiền tệ của cái đồng
[01:02:07] tiền đó nó sẽ tăng
[01:02:10] rồi. Rất là easy.
[01:02:13] Ok không ạ?
[01:02:15] Nó rất là dễ ha chứ không có gì khó cả.
[01:02:19] nó ngược lại với cái quốc gia xuất khẩu
[01:02:21] thôi.
[01:02:28] À quên sẵn đây thì nói luôn ha. Thì sau
[01:02:31] mỗi tuần mình sẽ có một cái bài tập về
[01:02:33] nhà. Rồi cứ sau bốn bài bạn nào có cái
[01:02:38] điểm trung bình cao nhất thì sẽ nhận
[01:02:40] được một cái phần quà nho nhỏ ha.
[01:02:44] Tiền tươi thất thật luôn ha. Thì giá 1
[01:02:46] triệu đô.
[01:02:48] Rồi
[01:02:54] 1 triệu đô VND ha.
[01:02:58] VN Dollar rồi
[01:03:10] rồi. Ai chơi?
[01:03:13] Ai chơi
[01:03:15] vậy? Ai chơi lại?
[01:03:29] Slide nào?
[01:03:33] Slide thì trong cái slide thôi ha. Rồi
[01:03:39] đó là
[01:03:43] định hướng quốc gia.
[01:03:46] xác định chu kỳ, xác định được sức mạnh
[01:03:49] tiền tệ.
[01:03:51] Còn bây giờ là đến với vai trò của một
[01:03:55] cái đồng tiền trong hệ thống tiền tệ
[01:03:58] toàn cầu nó như thế nào. Thì tất cả
[01:04:01] những cái vai trò này nó được quy yếu từ
[01:04:04] cái hiệp định Plaza.
[01:04:07] nghiệp định la
[01:04:29] thì xét về vai trò ở đây
[01:04:32] tám cái đồng tiền mình nghiên cứu nó sẽ
[01:04:34] có bốn cái vai trò
[01:04:36] Đó là funding currency,
[01:04:39] đó là transform currency, đó là hai
[01:04:42] beta, đó là s hai bên currency.
[01:04:50] Thì đô la Mỹ nó sẽ có vai trò là và
[01:04:54] transform currency.
[01:04:56] CF sẽ có vai trò là và funding.
[01:05:01] sẽ có vai trò là sa và funding.
[01:05:05] Vãn ng sẽ có vai trò là transform
[01:05:08] euro cũng sẽ có vai trò là transform và
[01:05:10] AUD NZD CAD nó sẽ đóng vai trò là một
[01:05:14] cái đồng tiền 2 beta hay còn gọi là đồng
[01:05:16] tiền chu kỳ.
[01:05:19] À người ta phân loại như thế này để làm
[01:05:21] cái gì?
[01:05:23] Tại vì ứng với mỗi chu kỳ á nó sẽ mang
[01:05:26] một cái vai trò riêng và khi nó xác định
[01:05:29] được đúng vai trò của nó thì sức mạnh
[01:05:32] tiền tuệ của nó sẽ tăng lên
[01:05:35] nha. Mình đang đến theo kiểu dài hạn.
[01:05:37] Rồi ở đây có sáu chu kỳ kinh tế ha. Rồi
[01:05:41] đầu tiên mình xét đồng tiền USD đi trong
[01:05:44] thời kỳ tiền si phái thì đô la nó sẽ
[01:05:48] đóng vai trò là heaven trong cái giai
[01:05:50] đoạn tiền suy thói này.
[01:05:54] Gby và CF nó cũng đóng vai trò này trong
[01:05:57] thời kỳ tiền si thoái. Cho nên vào thời
[01:05:59] kỳ tiền suy thoái thì ba đồng tiền này
[01:06:02] nó sẽ tăng giá trị
[01:06:09] euro và vẻ nganh trong những cái thời kỳ
[01:06:12] tiền si thoái á thì cái sức mạnh của nó
[01:06:15] sẽ giảm.
[01:06:16] Tại vì suy thoái thì người ta sẽ không
[01:06:19] có đổ qua tiền để mà đi mua những cái
[01:06:22] loại tài sản nữa. Cho nên người ta ít
[01:06:24] cần những cái đồng tiền trform
[01:06:26] dùng cho cái nhu cầu đó cho nên sức mạnh
[01:06:28] nó giảm. Tương tự như vậy là những cái
[01:06:31] đồng tiền 2 beta là những đồng tiền chu
[01:06:33] kỳ thì cái trên của nó cũng sẽ là trên
[01:06:36] giảm.
[01:06:38] Vậy thì khi trong cái thời kỳ tiền si
[01:06:39] thói thì các bạn sẽ ghép những cái thằng
[01:06:41] nào với thằng nào?
[01:06:46] Theo nguyên tắc ban đầu là sẽ ghép những
[01:06:47] thằng mạnh với những thằng yếu đúng
[01:06:49] không? Vậ thằng mạnh này ghép với những
[01:06:51] thằng yếu thôi nha. Và lưu ý tuyệt đối á
[01:06:55] đừng có ghép những thằng nào mà có cùng
[01:06:58] cái vai trò với giao để mà tray
[01:07:02] trong cái chu kỳ đó.
[01:07:05] Rồi chu kỳ ở đây là chu kỳ riêng của
[01:07:08] những cái quốc gia này nha. Còn cái chu
[01:07:10] kỳ hồi nãy á những cái chu kỳ tăng hay
[01:07:13] là chu kỳ giảm tức là chu kỳ chung của
[01:07:16] thế giới
[01:07:18] mà chu kỳ chung của thế giới thì thường
[01:07:20] dựa vào chu kỳ của USD. Ngoài chu kỳ của
[01:07:24] USD thì nó sẽ liên quan đến trin
[01:07:27] paradox.
[01:07:28] Rồi
[01:07:33] nhớ như vậy ha. Cái bản này là áp dụng
[01:07:34] cho chu kỳ riêng của từng nước.
[01:07:39] Rồi có một cái lưu ý nha, đối với ba
[01:07:42] đồng tiền giống vai trò trú ẩn ở đây là
[01:07:46] đô la, là GPY là CF. Khi một đồng tiền
[01:07:50] nó mạnh lên,
[01:07:52] ví dụ mạnh lên
[01:07:54] thì CF
[01:07:56] nó sẽ giảm xuống, yên nó sẽ giảm xuống
[01:08:02] nha. Ba thằng này nó sẽ không bao giờ
[01:08:04] mạnh cùng lúc cả.
[01:08:07] Các bạn cứ tưởng tượng nó giống như là
[01:08:08] một cái tam giác ha.
[01:08:11] Tam quốc đi ngụy thục ngôn à. Khi nước
[01:08:14] này mạnh lên, ngủ mạnh lên thì hai thằng
[01:08:17] này nó sẽ phải liên kết với nhau để mà
[01:08:20] nó cân lại với thằng đô la này.
[01:08:23] Rồi và khi cái khủng quảng nó nổ ra ở
[01:08:26] đất nào thì cái đồng tiền của đức đó nó
[01:08:30] sẽ suy yếu và hai thằng tiền kia nó sẽ
[01:08:33] mạnh lên.
[01:08:35] Ví dụ như vậy nha.
[01:08:43] Đó là cái vai trò về Sen asset ha. Trong
[01:08:47] thời kỳ tiền x thoái thì ba thằng này nó
[01:08:49] sẽ đóng vai trò là shen currency
[01:08:53] này là transform này đóng tiền là hai
[01:08:56] beta. Không nên ghép những thằng cùng
[01:08:59] nhóm này tru kỳ đó mà phải ghép là gì?
[01:09:03] mạnh với thằng yếu à
[01:09:06] mạnh với thằng yếu ghép vào với nhau
[01:09:08] đừng có ghép chung nhóm kế đến là thời
[01:09:11] kỳ suy thoái ha thì lúc này thì cái vai
[01:09:13] trò trú ẩn càng nó được củng cố hơn nữa
[01:09:17] cho nên tren của ba thằng si thoái nó sẽ
[01:09:20] ba thằng chú ẩn nó sẽ gì ngày càng mạnh
[01:09:23] ngày càng mạnh lên à và những thằng này
[01:09:26] thì nó bắt đầu cũng là suy yếu rõ rệt
[01:09:27] hơn suy yếu rõ rệt hơn
[01:09:31] rồi cho đến chu kỳ đái
[01:09:33] Thì sức mạnh của ba hàng này nó bắt đầu
[01:09:35] nó có sự văn hóa và nó giảm lại.
[01:09:39] Nó giảm lại. Lúc này đây
[01:09:43] từ vai trò trú ẩn nó sẽ chuyển sang cái
[01:09:45] vai trò còn lại của nó trong cái hệ
[01:09:48] thống tiền tệ quốc tế. Đối lối đô la nó
[01:09:51] sẽ chuyển sang cái vai trò là một cái
[01:09:53] đồng tiền transform. Đối với CPY và CF
[01:09:57] thì bắt đầu nó chuyển sang cái vai trò
[01:10:00] là một cái đồng tiền funding,
[01:10:04] vai trò trú ẩn của nó nó sẽ bị mất đi
[01:10:08] rồi. Và khi bước vào thời kỳ đái á thì
[01:10:11] những cái đồng tiền mang tính chất là
[01:10:13] transform người ta cũng bắt đầu là nó có
[01:10:16] sự dịch chuyển trở lại, người ta bắt đầu
[01:10:19] có sự phục hồi. Những đồng tiền này có
[01:10:21] sự phục hồi ha. Và tương tự là những cái
[01:10:24] đồng AUD, NZD và CAD cũng có sự hồi lại.
[01:10:30] Các bạn đừng có coi đái là một cái gì đó
[01:10:32] nó mang tính chất tiêu cực.
[01:10:35] Các bạn nên hiểu chu kỳ đái là một cái
[01:10:37] chu kỳ mà người ta dạng như là người ta
[01:10:39] đang tích lũy, người ta đang gom hàng
[01:10:41] ha. Kinh tế thì nó chưa có sức vật cụ
[01:10:43] thể để mà nó chính thức bước vào
[01:10:46] expansion
[01:10:47] hay là mở rộng hay là tăng trưởng. Nó là
[01:10:50] một cái giai đoạn tích lũy đi ngang với
[01:10:52] nha.
[01:10:53] Rồi câu hỏi gì?
[01:11:11] Ờ hỏi gì bạn hỏi kìa
[01:11:17] à
[01:11:18] vậy chỉ số nào thì từ từ học ha. Hôm nay
[01:11:22] chưa có nắm mấy cái này ra. Mình chỉ
[01:11:24] đang xác định vai trò thôi mà nha. Muốn
[01:11:28] đi nhanh thì cũng phải đi từ từ ha. Muốn
[01:11:30] đi được thì phải bò trước cái đã.
[01:11:33] Mà muốn trước khi bò thì mình phải
[01:11:37] được uống sữa ha. Mình đang uống sữa
[01:11:40] thôi. Mình chưa có lên cái đẳng cấp là
[01:11:43] bò hay đi đâu.
[01:11:47] Rồi
[01:11:50] chư bị đái nó là một cái chu kỳ mà các
[01:11:53] bạn đi ngang ha. Nó là đi ngang chứ
[01:11:56] không phải là nó dạng đi dạng vi sá.
[01:11:59] Nó không phải là dạng VCF như vậy đâu. À
[01:12:01] nó không phải là dạng VCF như vậy nó
[01:12:04] bung lên mà nó dạng tích tụy nó đi ngang
[01:12:07] thành cái nền ha. W C thì đó gọi là tỷ á
[01:12:13] consolidation ha.
[01:12:16] Nó không phải là string ha nó không phải
[01:12:18] là string đó là consolidation.
[01:12:25] Rồi
[01:12:26] cho đến lúc này đây thì vai trò của nó
[01:12:28] bắt đầu có sự chuyển đổi ha. USD khi mà
[01:12:32] tiến vào phục hồi nó chính thức nó
[01:12:35] chuyển qua cái vai trò trung gian.
[01:12:38] Chính thức bước vào cái vai trò trung
[01:12:40] gian của nó.
[01:12:43] Và những cái đồng tiền như là GPY và CNF
[01:12:46] nó sẽ chuyển sang vai trò là một cái
[01:12:48] đồng tiền funding.
[01:12:51] Rồi những cái thằng Euro và vẻ nganh sẽ
[01:12:54] chính thức bước vào cái giai đoạn là
[01:12:56] trung gian. Rồi những thằng kia thì bắt
[01:12:59] đầu trở thành những đồng tiền hai beta.
[01:13:03] Và khi mà nó lên đến đỉnh của chu kỳ thì
[01:13:06] vai trò trung gian của những cái đồng
[01:13:10] như là USD nó sẽ giảm đi và nó sẽ trở về
[01:13:13] cái vai trò của nó là đồng tiền trú ẩn.
[01:13:18] Hình dung được không ạ? Một cái đồng
[01:13:20] tiền luôn luôn có hai vai trò ha. hai
[01:13:22] vai trò và nó sẽ thay đổi dựa vào chu kỳ
[01:13:25] kinh tế tăng giảm tăng giảm gì đó dịch
[01:13:28] vai trò của nó trong cái bản đồ tiền tệ
[01:13:30] toàn cầu.
[01:13:33] Rồi
[01:13:36] vậy thì về sức mạnh thì sao?
[01:13:39] À về sức mạnh
[01:13:43] thì trong cái vai trò là những cái ch
[01:13:45] giai đoạn này tiền suy thoái và suy
[01:13:48] thoái thì những thằng xẹp hai bên nó sẽ
[01:13:50] tăng giá trị ha. Còn những thằng này nó
[01:13:52] sẽ giảm giá trị thôi. Rồi
[01:13:56] giai đoạn đá là giai đoạn trung gian thì
[01:13:57] nó sẽ đi sai quay ở hầu hết thị trường.
[01:14:01] Rồi phục hồi ban đầu ha. Phục hồi ban
[01:14:03] đầu thì đô la Mỹ nó sẽ tăng. Đặc biệt là
[01:14:05] đô la Mỹ thì nó luôn luôn nó có
[01:14:08] chiều hướng tăng ha. Chiều hướng tăng
[01:14:10] trong những cái nhiều giai đoạn. Và nó
[01:14:13] chỉ yếu khi nào? đô la Mỹ chỉ suy yếu
[01:14:17] khi mà cái trin paradox mình nói lúc ban
[01:14:19] đầu á nó rơi vào cái vòng gọi là cái
[01:14:22] vòng giảm của nó thì nó mới bắt đầu nó
[01:14:24] giảm thôi. À còn ngoài ra là nó mạnh hầu
[01:14:28] như trong tất cả những cái chu kỳ
[01:14:32] để tìm một cái điểm yếu nhất thì có thể
[01:14:33] là trong chu kỳ đỉnh mà thôi. Đó đối với
[01:14:36] đồng đô la Mỹ rồi những cái đồng tiền
[01:14:38] funding như là CPY CF thì nó sẽ đặc biệt
[01:14:41] yếu vào phục hồi và tăng trưởng mạnh
[01:14:46] nha. Rồi những thằng còn lại thì nó sẽ
[01:14:48] mạnh vào những cái giai đoạn là phục hồi
[01:14:51] và tăng trưởng.
[01:14:53] Cho nên thời kỳ tăng trưởng người ta hay
[01:14:54] ghép những cái đồng hai beta với lại
[01:14:57] những cái đồng tiền funding để người ta
[01:14:58] trái đó gọi là gì? là carry tray nha. Và
[01:15:03] khi mà bước qua đỉnh rồi thì bắt đầu là
[01:15:06] carry tray nó bị đảo chiều người ta sẽ
[01:15:09] chuyển qua cái gì? Carryan win. Đơn giản
[01:15:12] như vậy thôi nha. Đó là một cái vòng lặp
[01:15:15] đi lặp lại.
[01:15:19] Rồi phần này hiểu kịp không ạ? Này giảng
[01:15:22] tương đối chậm ha.
[01:15:33] Core nên coi buổi tối ha. Buổi tối lúc
[01:15:36] nào giảng cũng a
[01:15:39] có cảm giác như là nó hay hơn buổi sáng.
[01:15:42] Buổi sáng còn sai ngủ quá
[01:15:45] não nó chưa kịp lót về hết.
[01:15:53] Rồi
[01:15:59] người ta chỉ mua yên trong tiền si thuế,
[01:16:01] si thái và
[01:16:03] đỉnh thôi ha. Còn những giai đoạn kia
[01:16:06] thì bán yên
[01:16:09] CF cũng vậy luôn.
[01:16:12] Rồi các bạn chí nữa gửi cái này cho các
[01:16:14] bạn ha. về nhà coi
[01:16:18] chẳng qua nãy giờ nói gì là trong mấy
[01:16:20] cái bảng này nó tốm gọn lại thôi.
[01:16:27] Rồi chúng ta tìm hiểu cái vai trò đầu
[01:16:29] tiên ha đó là viral funding.
[01:16:34] Rồi funding là gì?
[01:16:37] Thế nào gọi là có đồng tiền mang thích
[01:16:38] chất quing Đ
[01:17:22] Rồi thì funding currency á người ta
[01:17:26] thường định nghĩa đó là một cái đồng
[01:17:28] tiền được vai ra để mà đi đầu tư sang
[01:17:32] những cái tài sản có cái lợi sức cao hơn
[01:17:36] và điều kiện để một cái đồng tiền trở
[01:17:38] thành một cái đồng tiền funding á là cái
[01:17:40] lãi suất nó phải thấp hơn cái phần còn
[01:17:43] lại của thế giới và thanh khoản vai mượn
[01:17:45] nó phải dễ dàng
[01:17:48] và thị trường người ta sẽ không quan tâm
[01:17:50] là có quốc gia nó có giàu hay nghèo mà
[01:17:52] thị trường chỉ quan tâm là cái chi phí
[01:17:54] vai của nó có thấp và có đủ thanh khoản
[01:17:57] để mà mượn hay không thì trên thế giới
[01:18:01] của hai quốc gia có lãi xích thấp ha đó
[01:18:05] là gbyy
[01:18:07] đó là CF.
[01:18:11] À những quốc gia này luôn có cái lãi
[01:18:13] suất là gần như là
[01:18:17] bằng 0% trong đa số các thời kỳ.
[01:18:21] Và cái fal funding nó chỉ chuyển từ cái
[01:18:23] đồng này qua cái đồng kia thôi. Nó chỉ
[01:18:25] chuyển từ JPY sang XF và ngược lại thôi.
[01:18:30] Vậy câu hỏi tại sao là những cái quốc
[01:18:32] gia này nó lại có cái vai trò như vậy
[01:18:35] trong cái rổ tiền tệ quốc tế.
[01:18:38] Đó là do người ta quy định thôi ha. Đó
[01:18:41] là từ cái định hướng quốc gia khi mà
[01:18:43] người ta đi hợp á ở cái hội nghị LA rồi
[01:18:46] ta chỉ định ê mày đóng quay trò Vin Nha
[01:18:49] rồi ê thằng kia đóng quay trò Vin Nha
[01:18:51] còn hai thằng quỷ thằng Châu Âu với
[01:18:53] thằng Bản Anh hai mày là bự con mày đóng
[01:18:58] vai trò là đồng tiền trên cho tao và ví
[01:19:00] dụ như vậy đó dạng dạng như vậy ha thì
[01:19:04] mình nói cho vui vậy thôi chứ mà gọi là
[01:19:07] sự phân chia phân chia gọi là phân chia
[01:19:09] quyền lực trên thế giới.
[01:19:11] Phân chia quyền lực tài chính, phân chia
[01:19:12] lại những cái thị phần lúc nào cũng có
[01:19:16] miếng bánh ngon cả
[01:19:18] và trong mỗi chu kỳ nhau thì một thằng
[01:19:21] sẽ được hưởng lợi. Như vậy thôi.
[01:19:32] Rồi thì funding currency
[01:19:35] nó sẽ mạnh lên chủ yếu trong những pha
[01:19:37] mà những cái khẩu vị rủi ro nó giảm
[01:19:39] xuống.
[01:19:41] Và dòng tiền nó buộc phải đóng cái vị
[01:19:44] thế vai vốn trước đó.
[01:19:47] À
[01:19:50] ví dụ như trong tiền si thoái ha thì thị
[01:19:53] trường bắt đầu cảm nhận áp lực rằng tăng
[01:19:55] trưởng nó chậm lại, những cái quỷ bắt
[01:19:57] đầu giảm dần những cái vị thế rủi ro và
[01:19:59] thu hẹp cái hoạt động carry ray. Khi mà
[01:20:03] họ bán cái tài sản rủi ro thì họ phải
[01:20:05] mua lại cái đồng tiền đã đi bay trước đó
[01:20:07] để mà trả nợ. thì những cái đồng tiền
[01:20:09] funding nó sẽ mạnh lên trong cái thời kỳ
[01:20:11] này.
[01:20:15] Tương tự
[01:20:17] à
[01:20:20] thì người ta gọi cái hiện tượng này gọi
[01:20:22] là carry win ha. Thì nó cũng có công
[01:20:25] thức xác định car win.
[01:20:36] Có nghĩa là người ta đóng vị tế ha.
[01:20:39] xóa bỏ những cái vị thế mà đã vai để mà
[01:20:42] bây giờ đổi lại cái vị thế mà
[01:20:45] của đồng tiền nội địa. Trả lại đồng tiền
[01:20:47] nội địa ha. Dòng vốn đầu tư hồi hương.
[01:20:51] Rồi
[01:20:53] kế đến là suy thoái ha.
[01:20:56] Tại vì là rủi ro hệ thống nó tăng cao.
[01:20:59] Những cái quỷ bắt buộc phải là đóng
[01:21:00] nhanh những cái vị thế fting để mà đáp
[01:21:03] ứng cái yêu cầu ký quỷ và giảm rủi ro
[01:21:05] danh mục. Cho nên những cái đồng tiền
[01:21:08] funding nó sẽ mạnh lên ha. Vai trò
[01:21:10] funding lúc này chuyển qua vai trò gì? X
[01:21:13] hai bên currency.
[01:21:16] Tương tự là trong
[01:21:18] cái đỉnh chu kỳ ha. Đỉnh chu kỳ thì đỉnh
[01:21:21] chu kỳ nó sẽ không có trên mạnh bằng cái
[01:21:25] tiền suy thoái và suy thoái đỉnh chu kỳ.
[01:21:27] Các bạn cứ coi như là cái giai đoạn mà
[01:21:29] người ta đang gom dần những cái đồng JBY
[01:21:33] và CSF.
[01:21:35] người ta chờ người ta xả ra
[01:21:40] người ta gom hàng sẵn ha người ta gom
[01:21:42] hàng sẵn để chờ cái trên tan thì ở những
[01:21:45] cái đỉnh chu kỳ á là những cái ngân hàng
[01:21:47] trung ương họ thường bắt đầu là tắt chặt
[01:21:49] tiền tệ
[01:21:51] thì thanh khoản hệ thống nó bắt đầu co
[01:21:53] lại ha lãi suất thị trường thì tăng lên
[01:21:55] làm cho cái chi phí vai funding nó tăng
[01:21:57] dần rồi những cái vị thế funding họ sẽ
[01:22:00] là bị giảm bớt ngay cả khi mà cái khủng
[01:22:05] hoảng nó chưa xảy ra
[01:22:10] thì khi cái chi phí vay tăng lên và cái
[01:22:13] biến động thị trường tăng lên á thì cái
[01:22:15] lợi ích của carry day nó sẽ giảm xuống
[01:22:17] cho nên nhà đầu tư họ sẽ chủ động họ
[01:22:19] đóng vị thế của cpy và số
[01:22:24] và cái việc mà người ta mua lại những
[01:22:26] cái đồng tiền này làm cho nó sẽ mạnh hơn
[01:22:29] khi mà chu kỳ suy thoái nó bắt đầu nó
[01:22:31] diễn
[01:22:37] Thì để mở rộng thêm ha thì người ta
[01:22:40] thường hay nghĩ cái funding currency á
[01:22:42] chỉ là cái việc là vay trực tiếp một cái
[01:22:45] đồng tiền này rồi đổi sang một cái đồng
[01:22:48] tiền khác. Nhưng mà trong thực tế á phần
[01:22:51] lớn những cái hoạt động funding á nó
[01:22:54] phải đi qua một cái nghiệp vụ gọi là FXW
[01:22:59] rồi FXW ha.
[01:23:02] Thì sau này những cái cái này á nó sẽ có
[01:23:05] trong cái phần câu hỏi bài tập về nhà á
[01:23:07] các bạn.
[01:23:11] Rồi swap là một cái nghiệp vụ đổi một
[01:23:14] đồng tiền lấy một đồng tiền khác ở hiện
[01:23:16] tại đồng thời cam kết đảo ngược giao
[01:23:19] dịch trong tương lai.
[01:23:22] À ví dụ như là một cái quỷ gần đô la
[01:23:24] nhưng mà có thể là qu đồng yên với giá
[01:23:27] rẻ ha thì cái quỷ này họ sẽ thực hiện
[01:23:29] FXP họ sẽ đưa yên nhận đô ở thời điểm
[01:23:33] hiện tại và sao mà có thể kỳ hẹn nhất
[01:23:35] định nào đó thì những cái quỷ đó họ sẽ
[01:23:38] trả lại đô la và nhận lại yên
[01:23:44] chị không ạ. Và cái chi phí cái chi phí
[01:23:51] của cái hoạt động
[01:23:53] funding này á
[01:23:57] nó không chỉ là cái lễ suất của JPY mà
[01:24:00] nó sẽ phụ thuộc vào cái đầu tiên là
[01:24:03] forward
[01:24:05] à workp
[01:24:15] Rồi cái thứ hai là basic
[01:24:28] người ta có cái gọi là nghiệp vụ tray á.
[01:24:30] Rồi kế nữa đó là nhu cầu qu đô la ha
[01:24:35] hoặc là cái đồng tiền đít trong hệ thống
[01:24:37] nó như thế nào đó. Rồi đó chính là cái
[01:24:39] chi phí của của
[01:24:42] hoạt động carry trade của hoạt động
[01:24:43] funding.
[01:24:46] Nếu như mà cái nhu cầu wi đô la quá lớn
[01:24:48] ha thì cái người ta gọi là cái gì ta? À
[01:24:52] cross currency basic thì nó có thể ăn.
[01:24:56] Thì khi đó dù cho cái đồng yên nó có giá
[01:24:58] rẻ thì cái chi phí đổi yên xô á thông
[01:25:02] qua cái nghiệp vụ FXW này nó cũng có thể
[01:25:04] tăng.
[01:25:06] Rồi
[01:25:10] thì sau này mấy cái này giải thích sao
[01:25:11] ha? Nó có những khái niệm như là cross
[01:25:13] currency basic
[01:25:16] rồi cross currency basic có nghĩa là cái
[01:25:20] chên lệch ngoài lý thuyết ngang bằng lễ
[01:25:21] suất có bảo hiểm vân vân rất là nhiều
[01:25:25] cái ha.
[01:25:27] Rồi có những cái như là reboot hay là
[01:25:30] collateral trong funding vân vân. Cái
[01:25:34] này nghe chưa thôi ha. Bữa nay chỉ xác
[01:25:35] định vai trò thôi, chưa có đi về những
[01:25:38] cái đó.
[01:25:45] Đó là trong phần nghiệp vụ ha. Dụ sau
[01:25:48] này là bài tập nhiều có thôi. Rồi
[01:25:50] funding currency không mạnh lên ở những
[01:25:52] pha nào?
[01:25:55] Thì những pha còn lại thôi ha. Những pha
[01:25:58] còn lại thì nó bị bán đi thì nó không có
[01:25:59] mạnh lên. Đó là trong cái giai đoạn phục
[01:26:03] hồi nè, giai đoạn tăng trưởng nè và ở
[01:26:06] giai đoạn đái nè. Cho nên các bạn sẽ bán
[01:26:08] yên và bán
[01:26:11] CF khi nào?
[01:26:15] Rồi khi nào các bạn bán hai thằng này?
[01:26:27] Đó là phục hồi tăng trưởng và đấy khi
[01:26:31] các bạn bán thì trên của những cặp x/ j
[01:26:34] x/c sẽf sao
[01:26:52] Rồi vậy khi nào mua những cặp x/ x/c ha
[01:26:56] quýnh theo kiểu chu kỳ đó là khi nào khi
[01:26:59] chu kỳ đái diễn ra khi phục hồi diễn ra
[01:27:01] khi tăng trưởng diễn ra rồi khi đó thì
[01:27:04] ghép vào cặp với thằng Nào
[01:27:22] khi đó thầy ghép cặp với thằng nào
[01:27:33] thì ghép gặp với những thằng còn lại ha.
[01:27:37] Đó là gì? Là 2 beta
[01:27:40] và đó là cái gì?
[01:27:51] Confirm.
[01:27:54] Nhưng mà cái biên độ lợi nhận á, biên độ
[01:27:57] lợi nhận nó sẽ không có cao bằng những
[01:27:59] đồng tiền 2 beta ha.
[01:28:01] Cho nên những cái chu kỳ này người ta sẽ
[01:28:03] ghép những cái đồng tiền 2 beta với lại
[01:28:07] sẽ ghép
[01:28:09] chứ ít ai ghép euro của yên hay là bản
[01:28:12] yên với lại là gbyy giờ sẽ ghép lắm. Còn
[01:28:16] cặp U
[01:28:19] là một câu chuyện khác nữa ha. Tại vì
[01:28:24] Nhật Bản được phép bán khóa giá đồng
[01:28:26] tiền ha.
[01:28:33] bán khóa giá nó có nghiệp vụ bán khóa
[01:28:36] giá của nó
[01:28:39] rồi cho đó gặp Ui rất là khó tray
[01:28:42] tại vì nhiều khi nó sẽ tiến về cái mức
[01:28:44] 160 á là cái mức
[01:28:50] expiring contract của người ta cho nên
[01:28:52] sẽ có những cái hiện tượng bán tháo ra
[01:28:55] để người ta cân mục ngay chỗ đó.
[01:29:06] Rồi
[01:29:08] thì một cái đồng tiền funding currency á
[01:29:12] nó là một cái đồng tiền mà những cái quỹ
[01:29:17] đã vai nợ
[01:29:20] để mà lấy vốn đi mua tài sản khác.
[01:29:29] Cho nên cái a những cái khoảng vai này
[01:29:33] nó sẽ nằm trên cái phần nợ phải trả,
[01:29:36] trên cái bảng cân đối của một cái quỹ
[01:29:39] đầu tư.
[01:29:41] À
[01:29:43] mình cứ tưởng tượng một cái quỹ đầu tư
[01:29:45] nó có bản cân đối chế toán như vậy ha.
[01:29:47] Nó có tài sản bên đây. Nó có nguồn vốn
[01:29:50] và lợi phải trả nằm bên đây.
[01:29:54] Rồi
[01:29:55] nào kế toán thì biết thôi. Rồi thì cái
[01:29:58] khoảng vai funding này á nó sẽ nằm trong
[01:30:01] cái phần nợ phải trả của những cái head
[01:30:03] này. Nó nằm ở đây à những cái đồng
[01:30:07] funding.
[01:30:09] Còn bên đây là phần tài sản của nó.
[01:30:12] À ví dụ như có thể sẽ là
[01:30:15] trái phiếu nè, cổ phiếu hàng hóa nè,
[01:30:17] predit nè, rồi gì em nè, rồi những cái
[01:30:20] đồng tiền khác nhau à nó sẽ nằm bên đây.
[01:30:24] Nói chung gọi là tài sản tài chính của
[01:30:25] họ à trải phiếu cổ phiếu gì đó sẽ nằm
[01:30:30] bên đây của một cái quỷ.
[01:30:33] Rồi ví dụ như một cái quỷ vai 10 tỷ yên
[01:30:36] để mà đi đầu tư đi ha.
[01:30:40] Thì sau đó 10 tỷ yên đó con phải để như
[01:30:44] vậy. 10 tỷ yên đó họ sẽ phải đem
[01:30:49] đổi qua cái đồng tiền mà cái quốc gia có
[01:30:52] cái tài sản mà có cái hai beta mà họ
[01:30:54] muốn đầu tư. Ví dụ ở đây là nước Úc đi
[01:30:58] ha. Họ sẽ vay 10 tỷ yên đi. 10 tỷ GPY.
[01:31:05] 10 tỷ GPY này sẽ căn cứ vào cái tỷ giá
[01:31:09] hối đối của cái cặp AJ lúc đó quy đổi ra
[01:31:13] bao nhiêu AUD.
[01:31:16] Rồi dùng cái AUD đó
[01:31:20] sẽ đem đi mua những cái tài sản của nước
[01:31:23] Úc như là trái phiếu Úc,
[01:31:26] như là cổ phiếu Úc ha vân vân.
[01:31:33] Rồi thì lúc này trên cái bảng cân đối
[01:31:37] của quỷ ha thì họ sẽ có gì? Có tài sản
[01:31:40] AUD và có nợ phải trả là gì? Khoảng Y
[01:31:44] CPY vừa trên. Rồi đó là một cái nghiệp
[01:31:48] vụ về funding thôi. Ý nghĩa ha ý nghĩa
[01:31:52] của nó nằm trên bảng cân đối kế toán của
[01:31:54] những cái quỷ.
[01:31:56] Rồi đó là khi thị trường R on là người
[01:31:59] ta sẽ mua cái đồng AUD đúng không? người
[01:32:02] ta mua những cái loại cổ phiếu AOD. Bây
[01:32:04] giờ giả sử thị trường nó chỉ qua resort
[01:32:06] chứng khoán giảm, hàng hóa giảm redest r
[01:32:10] mở rộng VI tăng mc xuất hiện rồi những
[01:32:14] cái quỷ bị yêu cầu giảm rủi đo thì lúc
[01:32:17] này những cái quỷ phải làm gì? Phải làm
[01:32:19] ngược lại. Tức là phải bán cái cục tài
[01:32:22] sản AOD khúc này mua đem bán đi thanh lý
[01:32:26] nó đúng không? Thanh lý nó rồi sao? Thu
[01:32:30] tiền về, thu tiền về rồi đổi AUD sang
[01:32:33] JBY
[01:32:35] đúng không? Đổi sang JPY có nghĩa là JBY
[01:32:38] nó được mua lại đúng không? Jy được mua
[01:32:41] lại để mà gì trả cái khoảng GPY cho nên
[01:32:44] những cái JPY nó sẽ gì tăng lên cũng
[01:32:47] đồng nghĩa với việc là gì? AUD trên sẽ
[01:32:50] giảm xuống đúng không? Rồi đó là cái vai
[01:32:54] trò của đồng tiền BY và nó cũng liên
[01:32:57] quan đến nghiệp vụ carry day. Đó là như
[01:32:59] vậy ha. Rồi đơn giản dễ hiểu ha. Không
[01:33:04] có gì phức tạp cả. Easy thôi.
[01:33:18] Rồi điều kiện để một cái đồng tiền trở
[01:33:20] thành một cái
[01:33:23] đồng tiền funding á. Đầu tiên đó là điều
[01:33:25] kiện về nội tại cái đã là cái lợi suất
[01:33:29] danh nghĩa nó và cái lợi suất thực nó
[01:33:31] phải là thấp hơn cái phần còn lại của
[01:33:32] thế giới trong thời gian dài.
[01:33:36] Thứ hai là chi phí vai nó phải thấp và
[01:33:39] ổn định.
[01:33:40] thị trường lên ngân hàng qu đâu phải đủ
[01:33:43] sâu rồi những cái quỷ lớn có thể vay với
[01:33:45] cái quy mô lớn mà không có làm cái chi
[01:33:48] phí vốn tan vào những cái forward gent
[01:33:51] của ngân hàng trung ương thì nó ổn định
[01:33:54] và thị trường tin rằng cái lễ suất thấp
[01:33:56] nó sẽ được duy trì đủ lâu để mà xây dựng
[01:33:58] carry day rồi thì foran là gì
[01:34:04] à phố giden có nghĩa là những cái chính
[01:34:06] sách
[01:34:08] những cái định hướng
[01:34:11] mà người ta dùng lời nói để người ta
[01:34:14] đưa ra dùng lời nói ha
[01:34:18] nó gọi là for guidance
[01:34:22] rồi
[01:34:24] đó là điều kiện nội tại. Còn điều kiện
[01:34:26] ngại cảnh đó là cái gì là bắt buộc cái
[01:34:29] khẩu vị rủi ro trên toàn cầu nó phải
[01:34:31] cao.
[01:34:33] Và cái funding nó chỉ hoạt động khi mà
[01:34:35] những nhà đầu tư sẵn sàng chịu rủi ro.
[01:34:39] trên lệch lợi suất thì nó đủ hấp dẫn và
[01:34:42] phải có lợi suất ở cái thị trường đích
[01:34:45] cao hơn đủ nhiều để mà bù cái rủi ro tỷ
[01:34:48] giá và chi phí phòng hộ
[01:34:51] và phải có biến động thị trường thấp ha.
[01:34:53] Khi biến động thấp thì KT mới rủi ro hơn
[01:34:55] và nó mới được mở rộng.
[01:35:04] Rồi tóm lại là
[01:35:07] tùy si thoái suy thoái và đỉnh chu kỳ
[01:35:13] thì tiến hành bắt đầu là cái gì?
[01:35:16] Mua những đồng GPY CXF những chu kỳ còn
[01:35:19] lại thì bán những đồng tiền này. Rồi đơn
[01:35:22] giản vậy thôi.
[01:35:25] Kế đến thì mình sẽ
[01:35:29] nghiên cứu đồng tiền transform.
[01:35:36] Rồi có ai coi phim Transformer chưa?
[01:35:44] Ừ bạn nào coi phim Transformer chưa?
[01:35:52] The D of the Moon á dùng kính của chị
[01:35:54] Hằng á ha.
[01:35:58] of the Optimus á mấy con robot biến hình
[01:36:01] á gọi là transformer thì transform nó
[01:36:04] cũng mang ý nghĩa như vậy thôi ha có
[01:36:06] nghĩa là biến đổi
[01:36:09] chuyển đổi
[01:36:13] thì cái transform currency á
[01:36:18] người ta gọi là cái đồng tiền trung
[01:36:21] chuyển thanh khoản trong hệ thống tài
[01:36:24] chính toàn cầu.
[01:36:29] Nó là một cái đồng tiền mà đóng vai trò
[01:36:31] trung gian
[01:36:33] để cho cái dòng vốn quốc tế nó đi qua
[01:36:36] trước khi mà nó chảy vào cái tài sản
[01:36:39] đích.
[01:36:43] Ví dụ như funding currency là cái đồng
[01:36:44] tiền được vai ra đúng không? Hai beta là
[01:36:47] cái đồng tiền mà được mua khi mà thị
[01:36:50] trường ưa rủi ro. X là cái đồng tiền mà
[01:36:54] được mua khi mà thị trường là lo lắng sợ
[01:36:57] hãi. Còn cái transform currency là cái
[01:37:01] đồng tiền mà dòng vốn phải đi qua để mà
[01:37:04] nó chuyển trạng thái nó chuyển từ chu kỳ
[01:37:07] này sang chu kỳ khác. Người ta gọi là
[01:37:10] đồng tiền transform.
[01:37:12] Thì cái đồng tiền transform nó không có
[01:37:14] nhất thiết là nó phải là nơi trú ẩn cuối
[01:37:17] cùng và nó cũng không phải là cái đồng
[01:37:19] tiền có lợi suất cao nhất.
[01:37:21] Cái vai trò cốt lỗi của nó là giúp cho
[01:37:23] cái hệ thống tài chính nó chuyển đổi
[01:37:26] thanh khoản từ nơi này sang nơi khác, từ
[01:37:29] loại tài sản này sang cái loại tài sản
[01:37:30] khác.
[01:37:34] Từ cái trạng thái phòng thủ sang cái
[01:37:37] trạng thái rủi ro hoặc là từ trạng thái
[01:37:39] rủi ro quay về trạng thái phòng thủ.
[01:37:45] Rồi nếu như cái đồng funding currency
[01:37:50] là nó nằm trong cái phần nguồn vốn đúng
[01:37:51] không? Hồi nãy funding
[01:37:54] là nó nằm trong nguồn vốn và phải trả
[01:37:57] này thì cái transform này nó nằm ở giữa
[01:38:01] à nó nằm ở giữa chứ không phải nằm ở đây
[01:38:03] nha. nó nằm ở giữa
[01:38:08] thì nó là cái đồng tiền mà những cái quỹ
[01:38:10] những cái ngân hàng những cái dealer hay
[01:38:11] là những cái central bank hay là fund
[01:38:15] hay là access manager họ dùng để định
[01:38:18] giá để thanh toán để phùng hộ ha chuyển
[01:38:21] đổi rồi tái cấu trúc danh mục vân vân
[01:38:25] ví dụ như một cái quỹ ở châu Âu đi muốn
[01:38:28] mua cổ khí Mỹ
[01:38:31] rồi một cái quỷ ở châu Âu Ha
[01:38:34] cái quỷ
[01:38:37] ở châu Âu. Quỷ này nó muốn mua cổ phiếu
[01:38:40] Mỹ
[01:38:47] thì cái quỷ này á nó có thể bắt đầu bằng
[01:38:50] Euro.
[01:38:51] Nhưng mà khi giải ngân vào thị trường Mỹ
[01:38:54] á thì cái dòng vốn nó phải đi qua đô la.
[01:38:59] À rồi một cái quỷ ở Nhật muốn mua trái
[01:39:04] phiếu doanh nghiệp Mỹ thì lúc này nó có
[01:39:07] GPY đúng không? Nhưng mà tài sản rí nó
[01:39:09] được định danh bằng gì? Đô la cho nên
[01:39:12] phải đổi từ đồng yên sang đồng đô ha. Và
[01:39:18] người ta phải dùng cái gì gọi là gì? Nãy
[01:39:20] học gọi là FX W để mà nhận được đô la.
[01:39:24] Đó chính là một cái đồng tiền mang tính
[01:39:25] chất là gì?
[01:39:27] RF và ngược lại thôi. Ví dụ như là mình
[01:39:30] ở Nhật mình muốn đầu tư vào quỷ nào đó ở
[01:39:33] Euro ở Châu Âu thì người ta phải đổi gì
[01:39:36] đồng Euro để người ta chuyển đổi xem cái
[01:39:38] tài sản rí ở châu Âu
[01:39:52] thì nó khác gì với một cái đồng tiền
[01:39:54] bình thường.
[01:39:57] Thì một cái đồng tiền bình thường á nó
[01:39:59] chỉ có chức năng thanh toán trong nội
[01:40:01] địa nền kinh tế thôi. Còn trên currency
[01:40:04] nó dẫn đời nó sẽ được vận hành ở cái cấp
[01:40:06] độ là bản cơn đối toàn cầu.
[01:40:10] Thì một cái đồng tiền trên form nó sẽ có
[01:40:12] những cái
[01:40:15] tác dụng như sau ha.
[01:40:18] Đầu tiên á người ta gọi là định danh nợ
[01:40:21] quốc tế.
[01:40:23] bệnh nhân nợ
[01:40:32] rồi định danh lợ
[01:40:35] thứ hai á là định giá tài sản tài chính
[01:40:46] rồi
[01:40:48] thứ ba
[01:40:50] thì đó gọi là thanh toán thương mại và
[01:40:51] tài chính Ha,
[01:40:53] thanh toán.
[01:40:56] Thứ tư là phục hộ, tỷ giá.
[01:41:01] Rồi thứ tư là phùng hộ.
[01:41:04] Rồi ngoài ra thì nó còn có nhiều cái vai
[01:41:07] trò nữa nhưng mà đây là bốn cái vai trò
[01:41:09] chính
[01:41:12] của một cái đồng tiềning.
[01:41:15] Tức là nó còn được dùng để mà giao dịch
[01:41:17] phái sinh nè. Rồi tài trợ, vị thế, YFX
[01:41:21] nè. Rồi lưu trữ thanh khoản tạm thời nè
[01:41:24] hoặc là tái cơ cấu danh mục toàn cầu
[01:41:26] nha.
[01:41:28] Cho nên nó có cái cấp độ sử dụng cao hơn
[01:41:31] một cái đồng tiền
[01:41:33] đi. Một cái đồng tiền bình thường
[01:41:36] và một cái đồng tiền funding á
[01:41:39] một cái đồng tiền nào đó mà muốn trở
[01:41:42] thành transform currency á thì phải có
[01:41:44] ít nhất năm điều kiện. Phải có ít nhất
[01:41:46] năm điều kiện.
[01:41:53] Vậy đầu tiên đó là thị trường trái phiếu
[01:41:55] là nó phải lớn nè. Nếu như mà không có
[01:41:59] thị trường trái phiếu lớn á thì cái dòng
[01:42:01] vốn nó không có nơi gọi là cái bến đổ an
[01:42:04] toàn trong ngắn hạn và dài hạn. À đầu
[01:42:07] tiên là phải có thị trường trái phiếu.
[01:42:09] Các bạn thấy thị trường trái phiếu mình
[01:42:12] ở Việt Nam mình ít nghiên cứu nha. Như
[01:42:14] đây là cái mãng cực kỳ quan trọng trong
[01:42:16] tài chính quốc tế.
[01:42:18] Vậy đi học tài chính các bạn không nắm
[01:42:19] cái mảng trái phiếu coi như xong á nha.
[01:42:22] Thứ hai á là cái thị trường reboot nó
[01:42:25] phải có thanh khoản.
[01:42:27] Thì sau này mình sẽ tìm hiểu những cái
[01:42:28] này sao ha. Giờ thầy nói trước thôi. Rồi
[01:42:32] thị trường rebo nha.
[01:42:35] Rồi cái thứ ba. Thứ ba đó là thị trường
[01:42:39] FX SW không phải lớn
[01:42:43] FX.
[01:42:49] Rồi thứ tư, thứ tư á là một cái thị
[01:42:51] trường phái sinh nó đủ cái a lãi sức để
[01:42:56] mà phát triển ha tức là phái sinh. Rồi
[01:42:59] cái cuối cùng đó là cái hệ thống pháp lý
[01:43:03] ha và cái hệ thống ngân hàng nó đủ tin
[01:43:06] kệ.
[01:43:08] Rồi một cái đồng tiền nào muốn trở thành
[01:43:09] transform currency thì phải đáp ứng đủ
[01:43:12] năm cái cái gạch đầu dòng này thì mới có
[01:43:15] thể làm cái đồng tiền trên form được.
[01:43:20] Rồi vậy khi nào thì đồng tiền trên nó
[01:43:22] mạnh lên?
[01:43:28] Thì đầu tiên á là trong cái thời kỳ tiền
[01:43:30] suy thoái khi mà thị trường bắt đầu thấy
[01:43:32] cái rủi ro tăng dần á thì những cái quỹ
[01:43:35] giảm dần những cái bị thế rủi ro nhưng
[01:43:38] mà họ chưa có rút hết thì dòng tiền nó
[01:43:41] bắt đầu nó quay về những cái đầu mối
[01:43:43] thanh khoản để mà dễ xây sở khi có biến
[01:43:46] cố diễn ra.
[01:43:47] À thì cái đồng tiền mà mạnh lên nhất này
[01:43:50] nhiều nhất á là đồng euro
[01:43:54] à euro nó sẽ mạnh lên
[01:43:58] nhưng mà không phải là nó theo kiểu là
[01:44:01] nó mạnh liền mà người ta đang gom hàng á
[01:44:03] nha. Tiền si thói chủ yếu là người ta
[01:44:05] đang gom hàng. Các bạn sao không thấy rõ
[01:44:08] cái biến động cái trên của nó đâu. Tại
[01:44:10] vì không kể kiểu là nó tăng theo kiểu
[01:44:12] sống như vậy ha. mà nó sẽ tăng theo kiểu
[01:44:14] là lên rồi xuống nó không có ổn định
[01:44:17] lắm. Tại vì á là cái đồng Euro nó có
[01:44:20] trung vai trò là trung gian trong khu
[01:44:21] vực Euro ha. Tuy nhiên mà khi mà cái tùy
[01:44:24] suy thoái á nó mang tính chất toàn cầu á
[01:44:29] thì cái đồng euro nó sẽ là ít bị sôi hơn
[01:44:32] cái đồng đô la Mỹ cho nên cái vai trò
[01:44:35] trung chuyển của nó sẽ mạnh hơn.
[01:44:39] Rồi
[01:44:42] kế đến là giai đoạn đái và ổn định hệ
[01:44:44] thống ha. Giống như hồi nãy mình nói đáy
[01:44:46] là cái giai đoạn tích lũy thì thị trường
[01:44:49] á nó không có còn hoảng loạn như trong
[01:44:51] cái gọi là giai đoạn suy thói sâu ha.
[01:44:55] Thì những cái ngân hàng trung ương á họ
[01:44:57] đã bơm thanh khoản đủ để mà hệ thống
[01:44:59] không có còn thức gãi nữa. Những cái quỷ
[01:45:02] bắt đầu xây vốn từ trạng thái phù thủ
[01:45:05] sang cái trạng thái chờ đợi cơ hội. À
[01:45:08] tức là bây giờ người ta bắt đầu người ta
[01:45:11] chuyển những cái tài sản phòng thủ như
[01:45:15] người ta bắt đầu người ta đổi ra
[01:45:18] à dần dần người ta dịch chuyển sang
[01:45:20] những cái loại cổ phiếu
[01:45:22] à cổ phiếu ở đây là cổ phiếu tiện ích
[01:45:24] ha.
[01:45:27] ta chuyển bên cổ cái thích mà muốn
[01:45:28] chuyển qua thì người ta phải thông qua
[01:45:31] những cái đồng tiền transform để mà
[01:45:33] người ta đổi ra những cái loại này cho
[01:45:36] nên vai trò của cái đồng tiền transform
[01:45:39] nó bắt đầu nó mạnh lên
[01:45:41] để kèm không
[01:45:43] rồi thì sẵn đây nó luôn ha vàng thì nó
[01:45:45] không chỉ là x USB đâu mà còn có xo
[01:45:58] X trên
[01:46:00] bảng
[01:46:04] cho nên các bạn tray về mà các bạn cứ
[01:46:07] bám dựa vào X trên USD là các bạn dễ
[01:46:09] ngủm lắm nha.
[01:46:21] Tại Việt Nam thì à hay gắn vàng với Đông
[01:46:25] Loa thôi. Thật ra thì nó có rất là nhiều
[01:46:28] cái đồng tiền mà nó gắn với vàng.
[01:46:33] Rồi và ra bàn thì còn chịu tác dụng của
[01:46:36] tác động của những cái mảng ETS liên
[01:46:38] quan STDR ha
[01:46:41] vân vân rất là nhiều cái thì học trong
[01:46:43] phần 3 thì sẽ nói cái này rồi
[01:46:50] và tại sao funding transform currency nó
[01:46:53] lại mạnh lên nó pha đái có nghĩa là khi
[01:46:55] thị trường bất độ tái cơ cấu danh mục ha
[01:46:58] thì những quỷ là phải đổi tiền qua những
[01:46:59] cái đồng tiền trung gian để mà dịch
[01:47:02] chuyển vốn từ tài sản trởng sang là
[01:47:04] những cái tài sản có mức độ rủi ro cao
[01:47:07] hơn. Thì lúc này đây cái nhu cầu đi qua
[01:47:09] cái trạm trung chuyển này tăng lên à thì
[01:47:12] đâu la nó vẫn là cái trục chính thôi
[01:47:14] nhưng mà euro và bản thì nó đóng vai trò
[01:47:16] trung chuyển trong những cái dòng vốn
[01:47:17] khu vực.
[01:47:22] Rồi đó là lý do tại sao là trong chu kỳ
[01:47:24] đái
[01:47:27] cái đồng transform nó bắt đầu nó mạnh
[01:47:29] lên
[01:47:31] và giai đoạn phục hồi ban đầu ha là cái
[01:47:34] khẩu vị rủi ro nó quay lại thì cái dòng
[01:47:36] tiền là bắt đầu đi từ cái trung tâm
[01:47:38] thanh quản sang những cái thị trường
[01:47:39] tăng trưởng và tài sản có lợi suất cao
[01:47:42] hơn ha cho nên là cái đồng tiền trên
[01:47:44] form nó sẽ mạnh lên hơn như vậy thôi rồi
[01:47:47] đô la thì vẫn mạnh trong này Ha. Euro và
[01:47:50] bản thì vẫn mạnh tương đối trong những
[01:47:52] cái dòng vốn và khu vực
[01:47:57] rồi. Đó là cái giải thích cho cái đồng
[01:48:00] tiền trang phương
[01:48:06] phần này có mắt gì không ạ?
[01:48:16] Rồi trong tất cả những cái đồng tiền
[01:48:17] transform á thì đồng đô la là cái
[01:48:21] transform currency quan trọng nhất. Tại
[01:48:23] vì phần lớn cái hệ thống tài chính toàn
[01:48:25] cầu á nó vận hành quanh đô la.
[01:48:28] Ở quốc tế dùng đô rất là nhiều nè. Hàng
[01:48:30] hóa
[01:48:32] như dầu như g vàng đồng nông sản thì
[01:48:37] thường được định giá bằng đô la.
[01:48:39] Rồi trái phiếu haury là tài sản thế chất
[01:48:44] quan trọng nhất trong cái hệ thống tài
[01:48:45] chính. Rồi cái thị trường Rebo GST á là
[01:48:49] cái trung tâm của tài trợ ngắn hạn. Thị
[01:48:52] trường FXwap á là nơi là gì? Tổ chức
[01:48:55] toàn cầu để mà gọi là cung cấp là thanh
[01:48:58] khoản.
[01:49:01] Cho nên là cái đô la nó có rất là nhiều
[01:49:03] cái vai trò nó trồng lên nhau ha.
[01:49:07] Một là sẽ pha vân, hai là transform
[01:49:09] currency. Rồi
[01:49:14] còn euro, euro không phải là cái
[01:49:17] transform currency cốt lỗi của toàn cầu
[01:49:19] như đô la nhưng mà euro nó là transform
[01:49:22] currency quan trọng trong khu vực là
[01:49:25] Eurozone.
[01:49:27] Tại vì cái đồng Euro á nó thường được
[01:49:30] dùng để mà định giá trái phí khu vực.
[01:49:33] Euro dùng để lệnh giá những cái giao
[01:49:36] dịch phái sinh hay là thanh toán thương
[01:49:38] mại nổi khối hay là tài trợ ngân hàng
[01:49:41] hay là phòng hộ dòng vốn đầu tư. Cho nên
[01:49:43] trước đây cái đồng Euro người ta gọi là
[01:49:45] một cái đồng anti USD
[01:49:53] ha. Và người ta cứ nghĩ cái
[01:49:57] anti USD ha. Và người ta cứ nghĩ cái
[01:49:57] đồng euro nó có thể thay thế được đồng
[01:50:00] đô la.
[01:50:03] Nhưng mà điều đó không bao giờ xảy ra.
[01:50:06] Điều đó không bao giờ xảy ra tại vì bản
[01:50:09] thân cái khối nó có rất là nhiều vấn đề
[01:50:12] ha. Dạng như có những cái thằng mạnh nó
[01:50:16] làm hết, nó gánh hết những thằng nhỏ nó
[01:50:19] không có làm gì hết mà nó được hưởng
[01:50:20] lợi.
[01:50:24] Những thằng mạnh ở đây là cái gì? Đức nè
[01:50:28] ha. Pháp và Italia.
[01:50:33] ban này nó gánh cho những thằng còn lại
[01:50:35] cho nên tương lai thì nếu mà sự bất đồng
[01:50:38] này diễn ra thì kiểu gì thì nó cũng sẽ
[01:50:40] lại tan rã một lần nữa thôi ha. Không có
[01:50:44] bữa tiệc nào là không có tàn.
[01:50:48] R thì không có ha. Tại vì cơ bản nó đâu
[01:50:50] có đóng vai trò gì trong cái bản đồ hệ
[01:50:53] thống tiền tệ quốc tế đâu. Chỉ là nội
[01:50:56] khối nó chơi với nhau không à nha. Rick
[01:50:59] đâu có gì đâu.
[01:51:02] Rick thì cũng giống như ASAN thôi. Tổ
[01:51:04] chức ra để
[01:51:06] chơi với nhau. Nó cũng giống như là
[01:51:08] Nafstar nè ha.
[01:51:11] Rồi nó cũng giống như là những cái như
[01:51:13] là Châu Phi nè. Rất là nhiều cái ha. có
[01:51:16] rất là nhiều liên minh
[01:51:19] nhưng mà một cái đồng tiền muốn trở
[01:51:21] thành một cái đồng tiền dự trở toàn cầu
[01:51:22] nó còn nhiều yếu tố nữa. Nó phải gắn với
[01:51:25] cái yếu tố địa chính trị vào sức mạnh
[01:51:28] quân sự, tài chính rất là nhiều cái ha.
[01:51:30] Thì đến cái bài đó mình sẽ học thôi. Thì
[01:51:33] trong quá khứ nó không chỉ có đồng đô
[01:51:35] la. Ngày xưa trước đây là đồng bản Anh
[01:51:37] là đồng tiền dự trữ toàn cầu ha.
[01:51:41] Đây là đồng bản Anh.
[01:51:46] Rồi đánh đồng la
[01:51:48] trước đó nữa là cái đồng Wan Hà Lan
[01:51:55] VOC á ha công ty Đông ấn Hà Lan rồi có
[01:51:59] nhiều cái trong quá khứ nữa từ thời La
[01:52:02] Mã lận kìa những cái đồng R mai Hy lạp
[01:52:04] rồi nó đến bây giờ chứ không phải là chỉ
[01:52:06] có nhiêu đây và sau một cái chu kỳ nào
[01:52:08] đó thì nó sẽ thay đổi một cái đồng tiền
[01:52:11] khác một cái quốc gia suy yếu. một cái
[01:52:14] gia khác nổi trổi lên và chiến tranh đều
[01:52:17] là gì không thể là tránh khỏi được.
[01:52:21] Kinh tế về trị thì hai cái này nó có
[01:52:22] liên quan với nhau rồi. Ok. Đó là cái
[01:52:24] phần về random currency
[01:52:34] ngược lại thôi ha. Ngược lại với mạnh là
[01:52:37] yếu thôi. Đó là trong cái giai đoạn si
[01:52:40] thối sâu ha.
[01:52:42] Thì lúc này dòng tiền nó không có cần
[01:52:43] trung chuyển nhiều thì cái dòng tiền chủ
[01:52:46] yếu gom về cái nơi trú ẩn thì đô la lúc
[01:52:49] này là mạnh chủ yếu là vì cái vai trò
[01:52:51] trú ẩn và cái thanh khoản cuối cùng nó
[01:52:54] không phải là vì viral transform ha euro
[01:52:57] và bản thì thường yếu đi so với là suy
[01:52:59] yếu là do rủi ro cái hệ thống ngân hàng
[01:53:01] mà cái dòng vốn rút ra
[01:53:05] rồi và trong cái giai đoạn tăng trưởng
[01:53:08] mệnh kéo dài á
[01:53:10] thì cái dòng đồng tiền nó sẽ đi thẳng từ
[01:53:12] funding currency
[01:53:15] nhớ nha.
[01:53:16] Trong những cái giai đoạn mà tăng trưởng
[01:53:18] mà nó kéo dài thì cái đồng tiền dòng
[01:53:21] tiền ha nó sẽ đi thẳng
[01:53:24] nó không có qua những cái đồng tiền
[01:53:25] transform nữa. Dòng tiền lúc này đi từ
[01:53:28] transform là đi từ funding nó sẽ chuyển
[01:53:31] sang những cái đồng tiền hai beta luôn.
[01:53:42] thì cái vai trò trung chuyển nó vẫn tồn
[01:53:44] tại về mặt kỹ thuật thôi nhưng mà nó
[01:53:46] không có tạo ra cái lực mua bền dẫn cho
[01:53:48] transform currency lúc này.
[01:53:51] Đó là cái lý do giải thích cho tại sao
[01:53:53] là
[01:53:54] AUD, NZD và CAD nó mạnh lên trong cái
[01:53:58] giai đoạn tăng trưởng mạnh kéo dài.
[01:54:05] Rồi
[01:54:16] phần này về nhà đọc thêm ha.
[01:54:19] Tại sao nó không phải là một cái đồng
[01:54:21] tiền xế
[01:54:37] với đồng tiền 2 beta ha.
[01:54:40] Còn 5 phút ha. Nó hết 5 phút nghỉ
[01:54:48] thì AUD, NZD và CAD
[01:54:52] và những cái đồng tiền phản ánh cái nhịp
[01:54:55] thương mại toàn cầu và giá hàng hóa.
[01:54:58] AOUD thì nó ánh xạ cái
[01:55:02] nhịp của quản sắc, của than đá, của kim
[01:55:04] loại công nghiệp
[01:55:07] và cái cầu từ Trung Quốc và Châu Á.
[01:55:10] NZD thì nó phải ngánh nông sản và thương
[01:55:12] mại thực phẩm. CAD là nó phải ngánh cái
[01:55:15] dầu thô và năng lượng ở Bắc Mỹ ha. Thì
[01:55:18] do đó trong những cái pha mà thị trường
[01:55:20] định giá tăng trưởng và cái cầu hàng hóa
[01:55:23] phục hồi thì ba đồng tiền này nó mạnh
[01:55:25] lên sớm hơn cái số liệu kinh tế thực. Và
[01:55:29] ngược lại khi mà cái cầu hàng hóa suy
[01:55:30] yếu á cái chủ thương mại chậm lại thì ba
[01:55:33] cái đồng tiền này nó suy yếu nhanh hơn
[01:55:35] cái phần cầu ngoại của thị trường.
[01:55:38] Và cái vai trò này khiến cho ba cái đồng
[01:55:40] tiền này trở thành cái thước đo của chu
[01:55:42] kỳ hàng hóa và thương mại toàn cầu.
[01:55:48] Thì chu kỳ hàng hóa mà nó diễn ra những
[01:55:50] đồng tiền này mạnh lên thì cổ phiếu nào
[01:55:52] mà liên quan đến những cái ngành này thì
[01:55:55] cũng sẽ tăng thôi đúng không?
[01:55:59] Cổ phiếu là một cái loại tài sản mang
[01:56:01] tính chất chu kỳ ha các bạn. Trê cổ
[01:56:03] phiếu các bạn rẻ trơ lắm. Các bạn chỉ
[01:56:05] cần xác định được đúng chu kỳ thôi là
[01:56:08] các bạn có thể mua cổ phiếu được rồi. Cổ
[01:56:10] phiếu là cái loại dễ tray nhất trên thị
[01:56:11] trường ha. Không có cái nào dễ trê hơn
[01:56:13] cổ phiếu cả.
[01:56:16] Quan trọng là các bạn phải biết được
[01:56:17] đúng chu kỳ.
[01:56:21] Bất động sản cũng vậy luôn. bất động sản
[01:56:23] thì chỉ cần đúng cái chu kỳ của nó là
[01:56:25] bạn biết là nó tăng hay giảm rồi.
[01:56:29] Trong mấy cái món này á, nếu như mình ví
[01:56:33] a
[01:56:35] cổ phiếu giống như là
[01:56:37] thuốc lá đi ha, thuốc rê đi, thuốc rê,
[01:56:41] thuốc vấn vấn ngày xưa rê ha. Mình có
[01:56:44] thể coi cổ phiếu giống như thuốc rê. Rồi
[01:56:47] F thì nó giống như thuốc lá.
[01:56:52] Rồi à vàng à vàng thì nó giống như là
[01:56:59] thuốc gì
[01:57:02] à
[01:57:03] thuốc gì đó ba chấm ha. Rồi crypto
[01:57:08] crypto thì nó nặng đô hơn
[01:57:11] nó giống như là mai phí vậy ha.
[01:57:14] Nếu như mình chia ra cái thang đo thì nó
[01:57:16] cũng giống giống như vậy. Thì ở đây là
[01:57:18] nó ở đây muốn ám chỉ là cái mức độ dễ
[01:57:22] tray và khó tray của những cái loại hình
[01:57:25] tài sản này thôi ha.
[01:57:28] Chư gì cả.
[01:57:41] Rồi trong những thời kỳ tiền si thoái si
[01:57:43] thoái ha
[01:57:44] thì AOD, NZD, CAD thì nó si yếu vì cái
[01:57:50] dòng tiền rút khỏi tài sản rủi ro và
[01:57:52] thương mại. Và những cái chu kỳ đái thì
[01:57:55] bắt đầu là ổn định và tiền nó có thể
[01:57:59] quay về những cái đồng 2 beta này. Và
[01:58:02] đến cái phục hồi ban đầu thì là những
[01:58:04] cái đồng này nó mạnh lên và dòng tiền nó
[01:58:07] đi trước số liệu kinh tế nha. Rồi đến
[01:58:09] giai đoạn tăng trưởng mạnh thì những cái
[01:58:11] đồng tiền này nó mạnh lên rõ rì lòng
[01:58:13] những đồng tiền này nó
[01:58:16] ưa rủi ro và trong đỉnh chu kỳ thì những
[01:58:18] cái đồng tiền này bắt đầu nó suy yếu
[01:58:20] trước khi kinh tế rơi vào suy thoái vì
[01:58:23] thị trường là định giá sớm rủi ro ha.
[01:58:29] Nhắc lại nha,
[01:58:31] những cái chu kỳ này là chu kỳ riêng của
[01:58:34] cái đồng tiền đó thì nó mới tăng giảm
[01:58:37] kiểu này. Còn cái chu kỳ chung, chu kỳ
[01:58:41] chung
[01:58:43] thì nó sẽ tray theo định hướng quốc gia
[01:58:45] hồi nãy.
[01:58:47] Vì chung ở đây là chu kỳ của Mỹ á
[01:58:50] để các bạn bị lộn nữa nha. lộn với hai
[01:58:53] cái loại chu kỳ này
[01:58:58] này dễ lộn lắm nha
[01:59:00] dễ lộn lắm cho nên sau này ghép theo cái
[01:59:03] vai trò hay là ghép theo chu kỳ chung
[01:59:05] thì tù các bạn
[01:59:09] nhạc kiểu nào cũng nhảy được nha nhạc
[01:59:12] kiểu nào cũng nhảy được để dài hạn trên
[01:59:14] ngắn hạn gì đó tù
[01:59:19] rồi
[01:59:24] Thì sau này chúng ta sẽ có những cái như
[01:59:26] là
[01:59:28] phân tích những cái tin ra như thế nào
[01:59:29] đó ảnh hưởng ha. Rồi bây giờ còn có
[01:59:33] khoảng 2 phút ha. Bạn nào có câu hỏi nào
[01:59:36] không ạ?
[01:59:52] Rồi UJ ha thì nó là một trường hợp đặc
[01:59:55] biệt tại vì cái móc 160 nó có rất là
[01:59:58] nhiều cái hợp đồng, có những cái
[02:00:00] contract nó mở ra ngay tại cái móc đó.
[02:00:02] Cho nên khi tiến về móc đó thì người ta
[02:00:04] phải tiến hành người ta xả bớt những cái
[02:00:07] hợp đồng, những cái vị thế đó. Một khi
[02:00:10] mà nó đã xả xong hết tất cả những cái vị
[02:00:12] thế đó rồi á thì người ta có thể bỏ xả
[02:00:16] cái gọi là cái kháng cự 160 đó cho cặp
[02:00:19] Ui nó đi lên. Nhưng mà đằng sau đó là sẽ
[02:00:23] có những cái cam kết ngầm ở phía sau
[02:00:26] giữa những quốc gia với nhau. Cam kết hỗ
[02:00:29] trợ hay là cam kết về FXWP, cam kết về
[02:00:32] Rebo hay là cái những hợp đồng gì đó thì
[02:00:35] mình không biết được. Nhưng mà một khi
[02:00:37] nó đã xả xong rồi á thì có thể đ
[02:00:42] nha.
[02:00:45] Rồi.
[02:00:59] một câu hỏi nào đó liên quan đến bài học
[02:01:01] ngày hôm nay đi.
[02:01:13] Rồi năm có hỏi gì không năm?
[02:01:23] Rồi
[02:01:27] thì bạn nào có câu hỏi thì nhắn tin
[02:01:30] riêng nha. Hoặ hỏi trên lớp thì cũng
[02:01:32] được thôi.
[02:01:34] Rồi nếu như không có câu hỏi thì mình
[02:01:36] tạm thời mình kết thúc qua đây ha.
[02:01:40] Ngày mai mình sẽ tiếp tục. Đúng rồi buổi
[02:01:43] tối nó cái não nó lốt về ha.
[02:01:46] Thần thần trader nó nhập về còn buổi
[02:01:48] sáng thì nó còn chưa tỉnh ngủ nên ăn
[02:01:51] thần cũng chưa có nhập về
[02:01:57] rồi
[02:02:02] cô Rico cô buổi tối thôi nha.
[02:02:12] Rồi ok ha.
[02:02:14] Thì mai mình sẽ học về chu kỳ kinh tế
[02:02:17] nha. Xác định chu kỳ kinh tế
[02:02:21] cơ bản thôi. Cơ bản thôi chứ chưa có
[02:02:23] nâng cao. Rồi
[02:02:28] rồi tạm biệt các bạn ha. ngày mai sẽ gặp
[02:02:31] lại.
